Báo cáo tại Diễn đàn Khoa học và Hợp tác quốc tế trong Ung thư và Y học hạt nhân (theo Sức khỏe & Đời sống đã đưa tin) đã chỉ ra các yếu tố nguy cơ đa dạng của ung thư gan, phản ánh một cơ chế bệnh sinh phức tạp vượt ngoài những nhận thức y tế phổ thông.
Tuy nhiên, thực tế có những kẻ âm thầm khác như viêm gan B, C mạn tính, xơ gan, hay thậm chí là độc tố từ thực phẩm mốc đang tấn công gan mà chúng ta thường bỏ qua.
Theo bác sĩ Nguyễn Lê Mai Anh, thuộc Đội ngũ chuyên môn Long Châu: "Ung thư gan là kết quả của nhiều yếu tố cộng hưởng. Do đó, việc không uống rượu bia không đồng nghĩa với việc loại trừ hoàn toàn nguy cơ mắc bệnh nếu bạn có các yếu tố nền tiềm ẩn khác."
Để không rơi vào thế bị động, chúng ta cần hiểu rõ những yếu tố nào thực sự đe dọa tế bào gan và cách quản lý chúng một cách khoa học.
Ung thư gan: Không chỉ đến từ rượu bia
Khi nhắc đến ung thư gan, hình ảnh những ly rượu hay thói quen nhậu nhẹt thường hiện ra đầu tiên. Thực tế, dù bệnh gan liên quan đến rượu là một yếu tố nguy cơ chính , nhưng ung thư gan có nguồn gốc đa nguyên nhân và phức tạp hơn thế.
Số liệu cho thấy nhiễm viêm gan B (HBV) và viêm gan C (HCV) mạn tính chiếm tới khoảng 80% các trường hợp mắc ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) trên toàn cầu. Bên cạnh đó, những yếu tố như béo phì, đái tháo đường tuýp 2, nhiễm độc aflatoxin, và bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD/NASH) cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tiến triển bệnh . Sự kết hợp của nhiều yếu tố nguy cơ khiến bệnh lý này không còn gói gọn trong một nhóm đối tượng cụ thể nào.
:format(webp)/khi_nao_nhung_nguy_co_am_tham_dan_den_ung_thu_gan_can_duoc_luu_tam_1_545020cace.png)
Những yếu tố nguy cơ "âm thầm" cần đặc biệt lưu tâm
Để bảo vệ gan, điều quan trọng là nhận diện được cơ chế mà các yếu tố nguy cơ này tác động lên cơ thể.
Viêm gan B và C mạn tính
Bệnh viêm gan B và C thường tiến triển âm thầm, không bộc lộ triệu chứng ngay lập tức nhưng lại liên tục phá hủy tế bào gan.
- Viêm gan B (HBV) có thể gây ung thư bằng cách chèn trực tiếp vật chất di truyền của nó vào gen của người bệnh, đồng thời làm rối loạn các cấu trúc điều hòa gen bình thường.
- Viêm gan C (HCV) duy trì tình trạng viêm mạn tính kéo dài, gây tổn thương tế bào liên tục và tạo ra các gốc tự do làm hỏng DNA.
Dù theo cơ chế nào, cả hai loại virus đều đẩy gan vào vòng lặp "tổn thương - phục hồi" không ngừng, từ đó làm tăng mạnh nguy cơ đột biến và hình thành khối u.
Độc tố Aflatoxin từ thực phẩm mốc
Ít người ngờ rằng những hạt ngô, lạc hay ngũ cốc bị nấm mốc tấn công lại chứa Aflatoxin B1 - một chất gây ung thư gan mạnh. Khi đi vào cơ thể, Aflatoxin B1 được enzyme CYP450 chuyển hóa thành một dạng epoxide có hoạt tính cao.
:format(webp)/khi_nao_nhung_nguy_co_am_tham_dan_den_ung_thu_gan_can_duoc_luu_tam_2_2350a94f60.png)
Hợp chất này phản ứng mạnh với axit nucleic, gắn kết với các gốc guanine trong DNA để tạo thành các adduct Aflatoxin-N7-guanine . Quá trình này gây ra các đột biến gen đặc trưng, điển hình là đột biến G thành T trong gen TP53, một "dấu vân tay" phân tử của ung thư gan do aflatoxin gây ra. Đồng thời, độc tố này còn gây rối loạn chức năng ty thể và kích hoạt các tín hiệu viêm như NF-B, STAT3.
Gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD) và xơ gan
Cùng với sự gia tăng của béo phì và đái tháo đường tuýp 2, bệnh gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa (MASLD - trước đây gọi là NAFLD) đang trở thành mối đe dọa toàn cầu. Tình trạng tích tụ mỡ mạn tính sẽ dẫn đến viêm gan nhiễm mỡ (MASH). Quá trình viêm kéo dài cùng hiện tượng stress oxy hóa làm tổn thương tế bào gan sâu sắc, kích hoạt sự hình thành mô sẹo và dẫn đến xơ gan.
Một khi đã tiến triển thành xơ gan, nguy cơ phát triển ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) là rất lớn. Đáng chú ý, cơ chế sinh bệnh phức tạp của MASH còn có thể trực tiếp thúc đẩy sự hình thành khối u ác tính ở gan ngay cả khi bệnh nhân chưa có biểu hiện xơ gan trên lâm sàng.
Biện pháp giảm thiểu nguy cơ và bảo vệ tế bào gan
Nhận diện nguy cơ không phải để lo lắng, mà để thực hiện các biện pháp can thiệp kịp thời.
Đối với viêm gan B, tiêm vắc xin là công cụ phòng bệnh chủ chốt. Vắc xin phòng viêm gan B được khuyến cáo cho tất cả trẻ sơ sinh, phụ nữ chưa từng tiêm hoặc tiêm chưa đủ liều . Lịch tiêm thông thường bao gồm liều sơ sinh và 2 hoặc 3 liều tiếp theo tùy theo phác đồ để đạt hiệu quả bảo vệ tối ưu. Với những người đã nhiễm, việc xét nghiệm sàng lọc và quản lý bằng thuốc kháng virus theo chỉ định của bác sĩ là cần thiết để ngăn chặn tiến triển thành xơ gan và ung thư.
:format(webp)/khi_nao_nhung_nguy_co_am_tham_dan_den_ung_thu_gan_can_duoc_luu_tam_3_e279e09efe.png)
Để phòng ngừa Aflatoxin, việc đảm bảo an toàn thực phẩm là yếu tố quyết định. Người tiêu dùng cần tránh sử dụng thực phẩm mốc, đặc biệt là ngũ cốc và các loại hạt. Việc cải thiện điều kiện bảo quản, lưu kho và kiểm soát quy trình sản xuất giúp giảm thiểu sự xâm nhiễm của nấm Aspergillus .
Cuối cùng, việc can thiệp lối sống thông qua duy trì cân nặng hợp lý, kiểm soát đường huyết và tuyệt đối tránh sử dụng rượu bia sẽ giúp giảm gánh nặng chuyển hóa lên gan. Đây là biện pháp then chốt để ngăn chặn bệnh tiến triển từ gan nhiễm mỡ (MASLD) sang thể viêm (MASH) và ung thư gan.
Khi nào bạn cần trao đổi với bác sĩ về lịch tầm soát cá nhân hóa?
Một đặc điểm nguy hiểm của ung thư gan là giai đoạn sớm thường rất ít triệu chứng. Khi các dấu hiệu lâm sàng rõ rệt xuất hiện, bệnh thường đã ở giai đoạn tiến triển, khiến khả năng điều trị hồi phục giảm đi đáng kể. Do đó, tầm soát sớm là chìa khóa để cải thiện tiên lượng.
Tuy nhiên, không có một lịch tầm soát chung cho tất cả mọi người. Tần suất theo dõi phụ thuộc đáng kể vào mức độ nguy cơ của mỗi cá nhân. Bảng dưới đây tổng hợp các nhóm đối tượng nguy cơ cao và tần suất tầm soát gợi ý dựa trên các hướng dẫn y khoa .
Nhóm đối tượng | Mức độ nguy cơ | Tần suất tầm soát gợi ý |
|---|---|---|
Người nhiễm viêm gan B mạn tính thuộc nhóm nguy cơ (có xơ gan, nam giới từ 40 tuổi trở lên hoặc nữ giới từ 50 tuổi trở lên, hoặc có tiền sử gia đình mắc ung thư gan) | Cao | Mỗi 6 tháng |
Người nhiễm viêm gan C mạn tính có xơ hóa gan tiến triển (F3) hoặc xơ gan (F4) | Cao | Mỗi 6 tháng |
Người bị xơ gan (bất kể nguyên nhân) | Cao đến Rất cao | Mỗi 6 tháng (hoặc mỗi 3 tháng nếu đang theo dõi tổn thương gan nghi ngờ theo chỉ định của bác sĩ) |
Người có tiền sử gia đình bị ung thư gan | Cao | Mỗi 6 tháng |
"Việc chỉ đi khám khi có triệu chứng có thể khiến bệnh nhân bỏ lỡ cơ hội điều trị sớm. Do nguy cơ ung thư gan phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh và mức độ xơ hóa của từng cá nhân, lịch tầm soát định kỳ cần được bác sĩ chuyên khoa đánh giá và chỉ định cụ thể." - Bác sĩ Mai Anh nhấn mạnh.
Thay vì chỉ lo lắng về rượu bia, việc nhận diện đúng những nguy cơ âm thầm gây ung thư gan như viêm gan B, C hay độc tố Aflatoxin sẽ giúp bạn chủ động bảo vệ gan thông qua tầm soát cá nhân hóa cùng bác sĩ.
Hãy trao đổi với bác sĩ chuyên khoa gan mật để đánh giá các yếu tố nguy cơ của bạn và xây dựng lịch tầm soát phù hợp.
:format(webp)/DSC_00435_6ffe7f2e75.jpg)
:format(webp)/DSC_04476_5812a12e06.jpg)
:format(webp)/DSC_04483_5959181613_df5ae76798.jpg)
:format(webp)/Illus_Goi_blue_1_e4effbd2a2.png)
:format(webp)/Illus_Goi_blue_3_ad13668bfe.png)
:format(webp)/Illus_Goi_blue_1_5eeb7f570b.png)
:format(webp)/bi_cum_do_dam_mua_nam_may_lanh_su_that_co_phai_vay_4_55ac5e5f90.png)
:format(webp)/cum_a_chi_sot_nhe_khi_nao_can_canh_giac_nguy_co_suy_ho_hap_3_a85d11d54a.png)
:format(webp)/dau_hong_keo_dai_du_khong_om_sot_hay_cam_lanh_nen_nghi_den_benh_gi_4_75dba06a5d.png)
:format(webp)/da_tiem_vac_xin_nao_mo_cau_co_can_su_dung_khang_sinh_du_phong_khong_2_1a1c386473.jpg)
:format(webp)/khi_con_sot_cao_dot_ngot_lam_sao_phan_biet_cum_mua_va_benh_nao_mo_cau_3_3245b32828.png)