Trong nhiều gia đình, chiếc nhiệt kế được xem là thước đo để đánh giá mức độ nặng nhẹ của một trận ốm. Khi một người mắc cúm A nhưng chỉ sốt nhẹ khoảng 38°C, người chăm sóc thường có tâm lý an tâm, cho rằng bệnh đang diễn tiến ổn định và chỉ cần nghỉ ngơi tại nhà.
Một số trường hợp ghi nhận mức độ sốt có thể không phản ánh chính xác mức độ tổn thương của phổi. Hãy hình dung một người mắc bệnh nền như COPD (bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính), dù không sốt cao nhưng nhu mô phổi có thể đang bị viêm nhiễm nặng. Việc quá phụ thuộc vào nhiệt kế dễ khiến người nhà bỏ lỡ các dấu hiệu cảnh báo từ hệ hô hấp, làm chậm quá trình đánh giá và can thiệp y tế khi người bệnh tiến triển thành suy hô hấp cấp.
Theo bác sĩ Nguyễn Đặng Hồng Nhi, thuộc Đội ngũ chuyên môn Long Châu, không sốt cao không đồng nghĩa với việc không nguy hiểm, đặc biệt là trên những bệnh nhân có đáp ứng miễn dịch kém hoặc có bệnh lý nền về phổi và tim mạch.
Để không rơi vào bẫy chủ quan, chúng ta cần hiểu rõ cơ chế mà virus cúm A tấn công cơ thể và những dấu hiệu cảnh báo đỏ khi bệnh chuyển nặng.
Vì sao không nên dùng mức độ sốt để đo độ nguy hiểm của cúm A?
Nhiều người tin rằng sốt cao là dấu hiệu của bệnh nặng, còn sốt nhẹ là dấu hiệu của bệnh nhẹ. Trong y khoa, sốt là một biểu hiện của đáp ứng viêm khi cơ thể chống lại tác nhân gây bệnh, nhưng mức độ sốt không phản ánh trực tiếp cường độ đáp ứng miễn dịch hay mức độ tổn thương phổi.
Người cao tuổi hoặc người suy giảm miễn dịch có thể không sốt hoặc chỉ sốt nhẹ dù mắc cúm và có nguy cơ biến chứng nặng. Vì vậy, cần đánh giá đồng thời các triệu chứng, tình trạng hô hấp và những yếu tố nguy cơ của người bệnh.
:format(webp)/cum_a_chi_sot_nhe_khi_nao_can_canh_giac_nguy_co_suy_ho_hap_1_86d83ea2c0.png)
Điều này có nghĩa là nhiệt độ cơ thể chỉ là một chỉ số tham khảo, không phản ánh chính xác mức độ viêm hay tổn thương tại nhu mô phổi. Một bệnh nhân có thể đã hạ sốt nhờ dùng thuốc hoặc do cơ địa, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc bệnh đã khỏi hoặc nguy cơ biến chứng đã hết. Trong những trường hợp, virus có thể vẫn tiếp tục nhân bản và phá hủy các phế nang, khiến nồng độ oxy trong máu giảm sâu mà người bệnh không hề hay biết thông qua nhiệt kế.
Điều gì khiến cúm A biến chứng suy hô hấp nhanh chóng?
Cúm A không đơn thuần là một trận cảm lạnh. Virus này có khả năng tấn công trực tiếp vào đường hô hấp dưới và biểu mô phế nang, gây ra tình trạng viêm phổi tiên phát thông qua việc nhiễm trùng trực tiếp nhu mô phổi. Khi các phế nang bị tổn thương, khả năng trao đổi oxy bị suy giảm nghiêm trọng.
Nguy hiểm hơn, ở một số trường hợp, cơ thể phản ứng quá mức với virus, tạo ra hiện tượng bão cytokine (hypercytokinemia). Đây là tình trạng hệ miễn dịch tiết ra một lượng lớn các cytokine tiền viêm một cách mất kiểm soát, gây tổn thương lan rộng không chỉ ở nơi virus tấn công mà còn phá hủy cả những mô khỏe mạnh xung quanh.
:format(webp)/cum_a_chi_sot_nhe_khi_nao_can_canh_giac_nguy_co_suy_ho_hap_2_1f00336335.png)
Cùng với tổn thương trực tiếp do virus và các yếu tố liên quan, quá trình này có thể làm suy giảm trao đổi khí, gây viêm phổi nặng và tiến triển thành hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS). Tuy nhiên, cơ chế và mức độ tổn thương không giống nhau ở tất cả bệnh nhân.
Nhận diện dấu hiệu cảnh báo cúm A chuyển nặng ở người lớn và trẻ em
Vì không thể dựa vào cơn sốt, người nhà cần quan sát kỹ các biểu hiện về nhịp thở và trạng thái tinh thần của người bệnh. Suy hô hấp thường diễn tiến từ từ nhưng có thể tăng tốc rất nhanh.
Đối với người lớn, các dấu hiệu báo động đỏ bao gồm:
- Cảm giác khó thở tăng dần, hụt hơi ngay cả khi nghỉ ngơi.
- Nhịp thở nhanh, nông, hoặc phải gắng sức để thở.
- Đau tức ngực, môi hoặc đầu ngón tay có dấu hiệu tím tái.
- Trạng thái tinh thần thay đổi: Lú lẫn, li bì hoặc khó đánh thức.
Đối với trẻ em, các dấu hiệu suy hô hấp thường đặc trưng và dễ nhận diện hơn nếu người chăm sóc chú ý:
- Suy hô hấp: Thở nhanh, khó thở, phập phồng cánh mũi, rút lõm lồng ngực, thở rên, tím môi hoặc mặt.
- Thần kinh: Li bì, khó đánh thức, giảm tương tác, co giật.
- Mất nước: Bú/uống kém, tiểu ít, khô miệng, không có nước mắt khi khóc.
- Dấu hiệu khác: Đau ngực, triệu chứng nặng lên hoặc tái phát, bệnh mạn tính trở nặng.
:format(webp)/cum_a_chi_sot_nhe_khi_nao_can_canh_giac_nguy_co_suy_ho_hap_3_a85d11d54a.png)
Những nhóm đối tượng báo động đỏ cần theo dõi đặc biệt
Không phải ai mắc cúm A cũng có nguy cơ suy hô hấp như nhau. Có những nhóm đối tượng có nguy cơ gặp biến chứng nặng khi mắc cúm A cao hơn, ngay cả khi triệu chứng ban đầu trông có vẻ nhẹ nhàng.
Những nhóm nguy cơ cao bao gồm:
- Người mắc bệnh phổi mạn tính (như COPD, hen suyễn) và bệnh tim mạch mạn tính ,.
- Người cao tuổi và trẻ nhỏ có hệ miễn dịch chưa hoàn thiện hoặc đã suy yếu.
- Người suy giảm miễn dịch hoặc đang điều trị các thuốc ức chế miễn dịch.
Đối với những nhóm này, việc tiêm vắc xin cúm hằng năm được khuyến cáo vì có thể giảm đáng kể tỷ lệ nhập viện và biến chứng nặng. Khi những đối tượng này mắc cúm, việc theo dõi cần được thực hiện chặt chẽ hơn, không chờ đợi các triệu chứng rầm rộ mới đi khám.
:format(webp)/cum_a_chi_sot_nhe_khi_nao_can_canh_giac_nguy_co_suy_ho_hap_4_0c2b48cdf3.png)
Hướng dẫn xử trí và thời điểm vàng cần cấp cứu ngay
Khi nhận thấy các dấu hiệu khó thở hoặc thay đổi ý thức, thời gian chính là yếu tố quyết định sự sống còn. Việc chần chừ chờ cơn sốt tăng cao hoặc tự điều trị tại nhà có thể làm mất đi thời điểm vàng để can thiệp y tế.
Bác sĩ Hồng Nhi cho biết, quyết định đưa bệnh nhân đến bệnh viện ngay khi có dấu hiệu khó thở, dù không sốt, là hành động quan trọng nhất để ngăn chặn suy hô hấp tiến triển thành tử vong.
Một lưu ý đặc biệt quan trọng là tuyệt đối không tự ý sử dụng kháng sinh khi mắc cúm. Cúm A do virus gây ra, nên kháng sinh không có tác dụng điều trị trực tiếp virus. Tuy nhiên, nếu nghi ngờ hoặc xác định có nhiễm khuẩn đồng mắc, bác sĩ có thể chỉ định kháng sinh phù hợp. Việc sử dụng kháng sinh không đúng chỉ định góp phần làm gia tăng tình trạng kháng kháng sinh.
Người bệnh nên:
- Đến ngay cơ sở cấp cứu nếu xuất hiện: Thở nhanh, tím môi, lơ mơ hoặc rút lõm lồng ngực (ở trẻ em).
- Tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ, không tự ý dùng thuốc hạ sốt quá liều hoặc dùng thuốc giảm ho làm che lấp triệu chứng.
- Tăng cường vệ sinh hô hấp, đeo khẩu trang và tiêm phòng vắc xin định kỳ để bảo vệ bản thân và gia đình.
Thay vì nhìn vào con số trên nhiệt kế để an tâm, hãy nhìn vào nhịp thở và sắc mặt của người bệnh. Khi xuất hiện các dấu hiệu khó thở hoặc hụt hơi, đó mới là lúc cần hành động khẩn cấp vì suy hô hấp do cúm A có thể diễn ra rất nhanh chóng.
Nếu người bệnh cúm A khó thở, thở nhanh hoặc lơ mơ, hãy đưa đi cấp cứu ngay, không chờ cơn sốt tăng cao.
Tình huống mở đầu mang tính minh họa, không đại diện cho một cá nhân cụ thể.
:format(webp)/vac_xin_influvac_00043501_1_ec3404351c.png)
:format(webp)/vac_xin_vaxigrip_00038255_1_3cecd1f671.jpg)
:format(webp)/Illus_Goi_blue_2_10add6a475.png)
:format(webp)/Illus_Goi_blue_2_0121d2fee9.png)
:format(webp)/minh_hoa_goi_VECTOR_e6af7e1c7f.png)
:format(webp)/bi_cum_do_dam_mua_nam_may_lanh_su_that_co_phai_vay_4_55ac5e5f90.png)
:format(webp)/dau_hong_keo_dai_du_khong_om_sot_hay_cam_lanh_nen_nghi_den_benh_gi_4_75dba06a5d.png)
:format(webp)/da_tiem_vac_xin_nao_mo_cau_co_can_su_dung_khang_sinh_du_phong_khong_2_1a1c386473.jpg)
:format(webp)/khi_con_sot_cao_dot_ngot_lam_sao_phan_biet_cum_mua_va_benh_nao_mo_cau_3_3245b32828.png)
:format(webp)/sau_khi_khoi_cam_cum_co_nhat_thiet_phai_thay_ban_chai_danh_rang_1_dd3c5feb68.jpg)