Rò tiêu hóa là một biến chứng phức tạp, thường gặp sau phẫu thuật đường tiêu hóa. Sự lưu thông bất thường khiến dịch tiêu hóa đi sang cơ quan khác hoặc ra ngoài da, đồng thời có thể liên quan đến ổ áp xe trong ổ bụng. Khi nhiễm khuẩn, người bệnh có nguy cơ diễn tiến nặng và cần được theo dõi, xử trí.
Rò tiêu hóa là gì?
Rò là sự kết nối bất thường giữa hai bề mặt biểu mô. Khi đường thông này xuất phát từ ruột đến một cơ quan lân cận, một đoạn khác của ruột hoặc da, tình trạng được gọi là rò tiêu hóa.
Đây là hiện tượng dịch tiêu hóa thoát theo một đường bất thường. Tình trạng này có thể khiến mủ hoặc dịch tiêu hóa thoát ra ngoài cơ thể hoặc đi vào cơ quan có đường thông, gây nhiễm trùng và biến chứng khác.
Rò thường xuất hiện thứ phát sau một số tình trạng bệnh lý hoặc can thiệp trước đó. Các yếu tố gồm chấn thương vùng bụng chậu, nhiễm trùng, phẫu thuật và một số quá trình bệnh viêm. Điều trị thường cần kết hợp phẫu thuật với liệu pháp kháng sinh.
:format(webp)/ro_tieu_hoa_la_gi_phan_loai_va_nhung_nguyen_nhan_gay_ro_1_0f1888feef.png)
Phân loại theo vị trí rò
Vị trí hình thành đường thông là một căn cứ quan trọng để phân loại. Mỗi dạng có đặc điểm khác nhau tùy cơ quan hoặc đoạn ruột tham gia.
Rò từ cơ quan tiêu hóa ra da
Đây là đường rò giữa các phần của ruột non, gồm tá tràng, hỗng tràng hoặc hồi tràng, với bề mặt da. Dấu hiệu có thể nhận biết là dịch tiêu hóa rò rỉ qua da.
Rò giữa những đoạn khác nhau của ống tiêu hóa
Dạng này hình thành giữa hai phân đoạn khác nhau của ruột. Biểu hiện không giống nhau ở mọi người bệnh vì còn phụ thuộc vào đoạn ruột bị ảnh hưởng. Một số trường hợp không có triệu chứng rõ ràng, nhưng có thể dẫn đến kém hấp thu, tiêu chảy và mất nước.
:format(webp)/ro_tieu_hoa_la_gi_phan_loai_va_nhung_nguyen_nhan_gay_ro_3_5278f2649e.png)
Rò giữa ruột và bàng quang
Rò có thể hình thành giữa ruột với bàng quang. Đại tràng, trực tràng, hồi tràng và ruột thừa đều có khả năng tạo đường thông với cơ quan này. Trong đó, ruột già là vị trí thường gặp hơn. Tình trạng này thường phổ biến hơn ở nam giới do ở nữ giới có tử cung nằm giữa hai cơ quan.
Người bệnh có thể đau, khó tiểu, tiểu không kiểm soát hoặc nước tiểu có mùi. Bác sĩ có thể chỉ định thử mẫu nước tiểu, siêu âm và các xét nghiệm khác để xác định vị trí rò.
Rò qua hậu môn
Đây là đường thông giữa ống hậu môn và vùng da xung quanh hậu môn. Tình trạng thường phát triển từ một ổ áp xe hậu môn bị vỡ, sau đó các thành phần trong ổ áp xe được thoát ra ngoài qua da.
Người bệnh có thể đau dữ dội tầng sinh môn, áp xe tái phát và sốt. Cần kiểm tra vùng hạ bộ hoặc thăm trực tràng để tìm đường rò. Với bệnh lý này, phương pháp điều trị được đề cập là cắt mô xơ của đường rò. Một số trường hợp phức tạp có thể khó xử trí, nhưng đây nhìn chung là thể có tiên lượng tốt nhất.
:format(webp)/ro_tieu_hoa_la_gi_phan_loai_va_nhung_nguyen_nhan_gay_ro_2_d31ae89a6c.png)
Phân loại theo cung lượng
Ngoài vị trí, lượng dịch thoát ra trong 24 giờ cũng được sử dụng để phân loại. Cách chia này mô tả lượng dịch rò trong một khoảng thời gian nhất định.
Có thể chia thành ba nhóm:
- Rò cung lượng thấp: Dưới 200 ml/24 giờ.
- Rò cung lượng vừa: Từ 200 đến 500 ml/24 giờ.
- Rò cung lượng cao: Trên 500 ml/24 giờ.
Mặc dù tỷ lệ lành tự nhiên không có mối liên quan rõ ràng với cung lượng rò, những trường hợp cung lượng vừa và cao thường liên quan đến rò ruột non.
Nguyên nhân gây rò
Nguyên nhân của tình trạng này khá phức tạp. Khoảng 75 - 85% trường hợp là biến chứng sau phẫu thuật, trong khi 15 - 25% còn lại là rò tự phát. Với trường hợp xuất hiện sau mổ, nguy cơ chịu ảnh hưởng bởi tình trạng bệnh lý cũng như đặc điểm cấu trúc giải phẫu và sinh lý của các cơ quan.
Một số nhóm phẫu thuật có khả năng dẫn đến đường rò gồm:
- Phẫu thuật điều trị bệnh viêm ruột, ung thư hoặc gỡ dính ruột. Trong nhóm này, ung thư thực quản, trực tràng và đầu tụy có tỷ lệ xì rò miệng nối sau mổ thường gặp hơn bệnh lý ở dạ dày và ruột non, do những đặc điểm riêng về giải phẫu, sinh lý và bệnh lý.
- Phẫu thuật cấp cứu, chẳng hạn trường hợp vỡ tá tụy, có nguy cơ cao. Khung tá tràng luôn chịu áp lực lớn do lượng dịch từ dạ dày, tá tràng, dịch mật và dịch tụy, cùng sự hoạt hóa của các men tụy. Nguy cơ càng đáng lưu ý khi người bệnh được xử trí muộn sau 24 giờ và đã xuất hiện viêm phúc mạc.
Những biến chứng sau phẫu thuật thường liên quan đến việc chuẩn bị cho người bệnh chưa tốt, phẫu thuật cấp cứu, tiền sử xạ trị hoặc tuổi cao kèm các bệnh lý tim phổi và đái tháo đường. Dinh dưỡng kém giữ vai trò quan trọng, khiến miệng nối khó lành và cơ thể đáp ứng không đầy đủ với viêm nhiễm sau mổ.
Người mắc bệnh Crohn cũng có nguy cơ gặp vấn đề này. Khi thực hiện phẫu thuật cắt đoạn đại tràng hoặc khâu nối đại tràng với ruột non trên nền bệnh Crohn, mô tại vùng khâu nối không còn bình thường nên dễ xảy ra xì rò miệng nối. Ngay cả phẫu thuật cắt ruột thừa ở người mắc bệnh Crohn cũng có thể dẫn đến tình trạng rò.
:format(webp)/ro_tieu_hoa_la_gi_phan_loai_va_nhung_nguyen_nhan_gay_ro_4_0deb82016c.png)
Rò tiêu hóa là biến chứng phức tạp, có thể dẫn đến nhiễm trùng và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe nếu không được phát hiện, xử trí kịp thời. Nhận diện đúng dạng bệnh theo vị trí và cung lượng, đồng thời xác định nguyên nhân, là cơ sở quan trọng để theo dõi và điều trị. Người bệnh cần được chẩn đoán, kiểm soát nhiễm trùng, đảm bảo dinh dưỡng và điều trị tại cơ sở y tế có chuyên môn.
:format(webp)/cach_bao_ve_he_tieu_hoa_khoe_manh_an_gi_va_nen_tranh_gi_5_b81ffc3151.png)
:format(webp)/nhin_phan_doan_benh_qua_hinh_dang_mau_sac_va_mui_5_e8d387c77a.png)
:format(webp)/polyp_ong_tieu_hoa_la_gi_cac_loai_polyp_thuong_gap_2_5633f62934.jpg)
:format(webp)/ton_thuong_dieulafoy_la_gi_vi_tri_thuong_xuat_hien_ton_thuong_4_86fea7a2c1.jpg)
:format(webp)/len_men_la_gi_qua_trinh_va_nhung_ung_dung_trong_doi_song_3_84ac3bbdfe.png)