Mỗi năm, hàng nghìn người Việt Nam phải đối mặt với chấn thương tủy sống liệt 2 chi dưới. Khả năng phục hồi phụ thuộc rất nhiều vào mức độ tổn thương và chất lượng chăm sóc từ giai đoạn cấp cứu đến phục hồi chức năng lâu dài. Hãy cùng tìm hiểu chi tiết về tình trạng này trong bài viết dưới đây.
Chấn thương tủy sống liệt 2 chi dưới là gì?
Chấn thương tủy sống gây liệt 2 chi dưới xảy ra khi tủy sống đoạn ngực hoặc thắt lưng bị tổn thương, gây mất chức năng vận động và/hoặc cảm giác ở 2 chân và vùng thân dưới.
Mức tổn thương quyết định phạm vi liệt:
- Tổn thương từ đoạn ngực T1 - T6: Liệt và mất cảm giác từ ngực trở xuống, ảnh hưởng cơ hô hấp.
- Tổn thương từ đoạn ngực T7 - T12: Liệt 2 chân, giữ được chức năng tay và hô hấp bình thường.
- Tổn thương đoạn thắt lưng L1 - L5: Liệt chân mức độ khác nhau, có thể đi bằng nạng.
:format(webp)/chan_thuong_tuy_song_liet_2_chi_duoi_la_gi_co_phuc_hoi_duoc_khong_2_7891233da1.png)
Nguyên nhân gây chấn thương tủy sống liệt 2 chi dưới
Các nguyên nhân gây tổn thương tủy sống rất đa dạng, trong đó chấn thương là nguyên nhân thường gặp nhất. Theo thống kê tại Việt Nam, những nguyên nhân phổ biến bao gồm:
- Tai nạn giao thông: Đây là nguyên nhân hàng đầu, chiếm khoảng 40-50% các trường hợp chấn thương tủy sống. Phần lớn liên quan đến tai nạn xe máy, đặc biệt khi người điều khiển hoặc người ngồi sau không đội mũ bảo hiểm đạt chuẩn, chạy quá tốc độ hoặc vi phạm luật giao thông. Đây cũng là nguyên nhân có thể phòng ngừa hiệu quả bằng việc tuân thủ quy định an toàn giao thông.
- Té ngã: Thường gặp ở người lao động làm việc trên cao như công nhân xây dựng, thợ điện hoặc ở người cao tuổi bị ngã cầu thang, ngã trong nhà do giảm khả năng giữ thăng bằng và loãng xương. Những chấn thương này có thể gây gãy cột sống và làm tổn thương tủy sống.
- Chấn thương thể thao: Một số môn thể thao có nguy cơ cao như lặn xuống vùng nước nông, bóng bầu dục, võ thuật, trượt ván hoặc các môn thể thao đối kháng có thể gây chấn thương cột sống nếu va chạm mạnh hoặc thực hiện động tác sai kỹ thuật.
- Bạo lực: Các vết thương do dao, vật sắc nhọn hoặc súng bắn (ít gặp hơn ở Việt Nam) có thể xuyên qua cột sống và làm tổn thương trực tiếp tủy sống, dẫn đến mất chức năng thần kinh ở nhiều mức độ khác nhau.
- Bệnh lý: Không phải mọi trường hợp tổn thương tủy sống đều do chấn thương. Một số bệnh lý như đột quỵ tủy sống, khối u tủy sống, viêm tủy cắt ngang hoặc các bệnh lý tự miễn có thể làm tổn thương tủy sống, gây yếu hoặc liệt chi, rối loạn cảm giác và rối loạn chức năng bàng quang, ruột.
:format(webp)/chan_thuong_tuy_song_liet_2_chi_duoi_la_gi_co_phuc_hoi_duoc_khong_3_41f112ff20.png)
Phân loại chấn thương tủy sống liệt 2 chi dưới
Hội chứng liệt hai chi dưới (hạ liệt) là tình trạng suy giảm hoặc mất khả năng vận động ở cả hai chân, thường kèm theo rối loạn cảm giác. Nếu không do đột quỵ, nguyên nhân chủ yếu là tổn thương tủy sống vùng ngực hoặc thắt lưng. Hạ liệt được chia thành hai thể chính là liệt mềm và liệt cứng.
Liệt mềm
Liệt mềm thường khởi phát đột ngột với biểu hiện giảm hoặc mất vận động hai chân, giảm trương lực cơ và giảm hoặc mất phản xạ gân xương. Nếu kéo dài, người bệnh có thể bị teo cơ. Nguyên nhân thường gặp gồm viêm tủy cắt ngang, viêm tủy thị thần kinh (bệnh Devic), chấn thương tủy sống, chảy máu tủy, viêm tủy sống do nhiễm khuẩn, nhũn tủy hoặc teo cơ tủy sống.
Liệt cứng
Liệt cứng xảy ra do tổn thương nơron vận động trung ương và thường tiến triển từ từ. Người bệnh có biểu hiện tăng trương lực cơ, tăng phản xạ gân xương, vận động khó khăn và có thể kèm rối loạn cơ vòng. Tình trạng này thường liên quan đến các nguyên nhân gây chèn ép tủy như lao cột sống, ung thư đốt sống, áp-xe ngoài màng cứng, u tủy, thoát vị đĩa đệm hoặc viêm màng nhện dày dính.
Phục hồi chức năng sau chấn thương tủy sống liệt 2 chi dưới
Phục hồi chức năng là một phần không thể thiếu trong điều trị chấn thương tủy sống. Việc can thiệp nên được bắt đầu ngay khi người bệnh ổn định về mặt y tế nhằm hạn chế biến chứng, cải thiện khả năng vận động và tăng mức độ độc lập trong sinh hoạt hằng ngày.
:format(webp)/chan_thuong_tuy_song_liet_2_chi_duoi_la_gi_co_phuc_hoi_duoc_khong_4_fc29a7c2d9.png)
Giai đoạn phục hồi cấp (0 - 6 tuần)
Trong giai đoạn đầu, mục tiêu là phòng ngừa các biến chứng do bất động kéo dài và bảo tồn chức năng cơ xương khớp. Các biện pháp phục hồi bao gồm:
- Xoay trở người bệnh mỗi 2 giờ một lần để phòng ngừa loét tỳ đè.
- Tập thở sâu, tập ho chủ động và vật lý trị liệu hô hấp để giảm nguy cơ viêm phổi.
- Thực hiện các bài tập vận động thụ động cho các khớp nhằm duy trì tầm vận động và phòng ngừa co rút, cứng khớp.
- Hướng dẫn người bệnh và người chăm sóc cách thay đổi tư thế, chăm sóc da và dinh dưỡng phù hợp.
Giai đoạn phục hồi chức năng chuyên sâu (6 tuần - 6 tháng)
Khi sức khỏe ổn định hơn, chương trình tập luyện sẽ tập trung vào cải thiện khả năng vận động và tự chăm sóc. Người bệnh thường được chỉ định:
- Tập tăng sức mạnh cơ tay, vai và thân mình để hỗ trợ di chuyển.
- Luyện tập chuyển tư thế từ nằm sang ngồi, từ giường sang xe lăn và ngược lại.
- Tập sử dụng xe lăn an toàn trong sinh hoạt hằng ngày.
- Tập đứng và tập đi với khung tập đi, nạng hoặc dụng cụ hỗ trợ nếu tổn thương tủy sống không hoàn toàn.
- Phục hồi chức năng bàng quang và ruột nhằm cải thiện khả năng kiểm soát đại tiểu tiện.
- Rèn luyện các kỹ năng sinh hoạt hằng ngày như mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và ăn uống.
:format(webp)/chan_thuong_tuy_song_liet_2_chi_duoi_la_gi_co_phuc_hoi_duoc_khong_5_4aa32801e8.png)
Giai đoạn duy trì dài hạn
Sau giai đoạn phục hồi tích cực, người bệnh cần tiếp tục duy trì tập luyện để bảo tồn kết quả đạt được và nâng cao chất lượng cuộc sống. Nội dung phục hồi bao gồm:
- Duy trì chương trình tập luyện tại nhà theo hướng dẫn của chuyên gia.
- Tái khám định kỳ để đánh giá chức năng vận động và điều chỉnh kế hoạch điều trị.
- Phòng ngừa các biến chứng lâu dài như co cứng cơ, loét tỳ đè và loãng xương.
- Hỗ trợ tâm lý, hướng nghiệp và tái hòa nhập học tập, lao động cũng như các hoạt động cộng đồng.
Chấn thương tủy sống liệt 2 chi dưới là tình trạng nghiêm trọng, có thể ảnh hưởng lâu dài đến khả năng vận động và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Việc chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời kết hợp với chương trình phục hồi chức năng toàn diện sẽ giúp hạn chế biến chứng, tối ưu khả năng phục hồi và tăng tính độc lập trong sinh hoạt. Nếu xuất hiện các dấu hiệu như yếu hoặc mất vận động hai chân sau chấn thương, người bệnh cần đến cơ sở y tế chuyên khoa để được thăm khám và điều trị càng sớm càng tốt.
:format(webp)/trat_xuong_banh_che_nguyen_nhan_dau_hieu_va_cach_dieu_tri_hieu_qua_1_b9d15d4f5d.jpg)
:format(webp)/dong_dinh_noi_tuy_quy_trinh_phuc_hoi_va_nhung_dieu_can_biet_4_d2b4a9de50.png)
:format(webp)/sang_loc_teo_co_tuy_song_la_gi_ai_nen_thuc_hien_va_khi_nao_1_6d6ee43c61.png)
:format(webp)/teo_co_tuy_song_co_nhung_cap_do_nao_dac_diem_tung_cap_do_sma_1_a7c9684025.png)
:format(webp)/dot_quy_tuy_song_la_gi_cach_phat_hien_benh_1_1a5ff422d0.jpg)