:format(webp)/cac_cap_do_phoi_nhiem_benh_dai_va_huong_xu_tri_sau_khi_bi_dong_vat_can_3_e175080b43.png)
Sau khi bị chó, mèo hoặc động vật khác cắn, nhiều người chỉ chú ý đến kích thước hay mức độ đau của vết thương. Tuy nhiên, nguy cơ phơi nhiễm bệnh dại còn phụ thuộc vào hình thức tiếp xúc, vị trí và mức độ tổn thương, tình trạng của động vật cũng như khả năng theo dõi con vật sau đó. Vì bệnh dại khi đã xuất hiện triệu chứng gần như không thể qua khỏi, việc xử trí vết thương và điều trị dự phòng sau phơi nhiễm có vai trò đặc biệt quan trọng.
:format(webp)/cac_cap_do_phoi_nhiem_benh_dai_va_huong_xu_tri_sau_khi_bi_dong_vat_can_5_58b9e98f4e.png)
Điều trị dự phòng nên được tiến hành càng sớm càng tốt sau khi bị phơi nhiễm, bao gồm: Rửa vết thương, tiêm vắc xin phòng dại và sử dụng huyết thanh kháng dại nếu có chỉ định.
Ngay sau khi bị động vật cắn hoặc cào, liếm lên da tổn thương, niêm mạc… cần xối rửa kỹ tất cả các vết thương trong khoảng 15 phút bằng nước và xà phòng. Nếu không có xà phòng, có thể rửa kỹ bằng nước sạch. Sau đó, vết thương có thể được sát khuẩn bằng dung dịch sát khuẩn thích hợp. Việc rửa sớm và kỹ giúp loại bỏ bớt nước bọt, chất bẩn và giảm lượng virus có thể hiện diện tại vị trí tiếp xúc.
:format(webp)/cac_cap_do_phoi_nhiem_benh_dai_va_huong_xu_tri_sau_khi_bi_dong_vat_can_6_a53e9be811.png)
Trong quá trình sơ cứu, không nên chà xát mạnh, bóp nặn hoặc thực hiện các thao tác làm vết thương dập nát và rộng thêm. Việc khâu kín ngay vết cắn cũng cần tránh nếu không thực sự cần thiết. Nếu vết thương buộc phải khâu, cách xử trí và thời điểm khâu cần do nhân viên y tế đánh giá. Tùy từng trường hợp, bác sĩ cũng có thể xem xét sử dụng kháng sinh và dự phòng uốn ván.
Sau khi xử lý vết thương, người bị cắn cần đến cơ sở y tế để được đánh giá nguy cơ. Việc có cần tiêm vắc xin phòng dại hoặc sử dụng thêm huyết thanh kháng dại hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ phơi nhiễm, vị trí và số lượng vết thương, tình trạng động vật, hoàn cảnh xảy ra phơi nhiễm và tình hình dịch bệnh dại tại địa phương.
Người dân không nên tự quyết định bỏ tiêm hoặc thay đổi lịch tiêm khi thấy vết thương đã lành hoặc con vật vẫn khỏe. Đường tiêm, lịch tiêm và liều lượng vắc xin cũng như huyết thanh kháng dại cần thực hiện theo hướng dẫn của nhân viên y tế.
Theo hướng dẫn được nêu trong Quyết định 1622/QĐ-BYT năm 2014, tình trạng tiếp xúc với động vật có thể được phân thành các mức độ khác nhau. Mỗi phân độ phản ánh đặc điểm tiếp xúc và tổn thương, từ đó giúp nhân viên y tế cân nhắc biện pháp dự phòng phù hợp. Đặc biệt, không nên chỉ nhìn vào kích thước vết thương để tự đánh giá nguy cơ.
Phơi nhiễm độ I: Tiếp xúc trên vùng da lành
Độ I bao gồm những tình huống như sờ hoặc cho động vật ăn, hay động vật liếm trên vùng da hoàn toàn lành lặn. Trong những trường hợp này, da vẫn đóng vai trò là hàng rào bảo vệ và không có đường để nước bọt của động vật tiếp xúc với mô bên dưới.
:format(webp)/cac_cap_do_phoi_nhiem_benh_dai_va_huong_xu_tri_sau_khi_bi_dong_vat_can_7_f62188c3c3.png)
Theo phân loại, những tiếp xúc thuộc độ I không cần điều trị dự phòng bệnh dại. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải chắc chắn vùng da tiếp xúc thực sự nguyên vẹn, không có vết xước, nứt, trầy hoặc tổn thương mà người bệnh không nhận thấy.
Phơi nhiễm độ II: Vết xước, vết cào hoặc nước bọt tiếp xúc với vùng tổn thương
Phơi nhiễm độ II bao gồm vết xước, vết cào hoặc trường hợp động vật liếm trên vùng da đã bị tổn thương, niêm mạc. Hướng điều trị dự phòng phụ thuộc vào tình trạng của động vật tại thời điểm gây phơi nhiễm và diễn biến của con vật trong vòng 10 ngày theo dõi.
Tình trạng vết thương độ II | Tình trạng động vật tại thời điểm cắn | Tình trạng động vật trong vòng 10 ngày | Điều trị dự phòng |
Vết xước, vết cào, liếm trên da bị tổn thương, niêm mạc
| Bình thường
| Bình thường | Tiêm vắc xin dại ngay, dừng tiêm sau ngày thứ 10 |
Ốm, xuất hiện triệu chứng dại hoặc mất tích | Tiêm vắc xin dại ngay và đủ liều | ||
Có triệu chứng dại hoặc không theo dõi được con vật | - | Tiêm vắc xin dại ngay và đủ liều |
Như vậy, ngay cả khi vết thương không chảy máu nhiều hoặc chỉ là một vết cào nhỏ, người bị phơi nhiễm vẫn không nên chủ quan.
Cần xử lý vết thương và đến cơ sở y tế sớm để được đánh giá, đồng thời tuân thủ hướng dẫn về việc theo dõi động vật và tuân thủ lịch tiêm ngừa.
Phơi nhiễm độ III: Vết cắn, cào chảy máu hoặc vết thương nguy cơ cao
Ở độ III, hướng xử trí không chỉ phụ thuộc vào tình trạng động vật mà còn liên quan đến đặc điểm và vị trí vết thương. Những vết cắn/cào sâu, nhiều vết hoặc nằm gần thần kinh trung ương, vùng tập trung nhiều dây thần kinh cần được đặc biệt lưu ý.
Tình trạng vết thương độ III | Tình trạng động vật tại thời điểm cắn | Tình trạng động vật trong vòng 10 ngày | Điều trị dự phòng |
Vết cắn/cào chảy máu ở vùng xa thần kinh trung ương
| Bình thường
| Bình thường | Tiêm vắc xin dại ngay, dừng tiêm sau ngày thứ 10 |
Ốm, xuất hiện triệu chứng dại hoặc mất tích | Tiêm vắc xin dại ngay và đủ liều | ||
Có triệu chứng dại hoặc không theo dõi được con vật | - | Tiêm huyết thanh kháng dại và vắc xin dại ngay | |
Vết cắn/cào sâu, nhiều vết Vết cắn/cào gần thần kinh trung ương như đầu, mặt, cổ Vết cắn/cào ở vùng có nhiều dây thần kinh như đầu chi, bộ phận sinh dục | Bình thường, có triệu chứng dại hoặc không theo dõi được con vật | - | Tiêm huyết thanh kháng dại và vắc xin phòng dại |
Nhóm cuối cùng thuộc tình huống phơi nhiễm rất nghiêm trọng, cần được chỉ định huyết thanh kháng dại kết hợp vắc xin không phụ thuộc vào việc con vật đang bình thường tại thời điểm bị phơi nhiễm.
Do đó, không nên chờ theo dõi động vật rồi mới quyết định đi tiêm.
Không phải trường hợp có nguy cơ nào cũng để lại một vết cắn lớn và dễ nhận thấy. Một số tình huống tưởng chừng không đáng lo vẫn cần được đánh giá cẩn thận:
- Vết cào rất nhỏ: Vết xước nông có thể ít đau, ít chảy máu nên dễ bị bỏ qua. Nếu da đã bị tổn thương, cần rửa sạch và được nhân viên y tế đánh giá mức độ phơi nhiễm.
- Bị động vật liếm vào vùng da đang tổn thương: Da trầy, nứt hoặc có vết thương có thể tạo điều kiện để nước bọt của động vật tiếp xúc với mô bên dưới. Vì vậy, cần phân biệt rõ với trường hợp bị liếm trên da hoàn toàn lành.
- Vết thương ở đầu, mặt hoặc cổ: Dù vết cắn không lớn, vị trí này vẫn cần được đặc biệt lưu ý và đánh giá sớm để có hướng dự phòng phù hợp.
- Vết cắn ở đầu chi hoặc bộ phận sinh dục: Đây là những vùng có nhiều dây thần kinh. Theo hướng dẫn được cung cấp, vết cắn hoặc cào tại các vị trí này có thể cần vắc xin kết hợp huyết thanh kháng dại.
- Động vật mất tích sau khi cắn: Không thể theo dõi tình trạng của con vật là yếu tố quan trọng khi đánh giá nguy cơ. Người bị cắn không nên chờ con vật quay lại mới đi khám.
- Động vật đã được tiêm phòng dại: Tiền sử tiêm phòng của con vật là thông tin hữu ích nhưng không phải lý do để người bị cắn tự bỏ qua việc đánh giá y tế. Hướng dự phòng còn phụ thuộc vào đặc điểm phơi nhiễm và tình trạng thực tế của động vật.
- Bị động vật hoang dã cắn: Các vết thương do động vật hoang dã gây ra cần được xử lý và điều trị theo hướng có nguy cơ bệnh dại. Nếu bắt được động vật và xét nghiệm cho kết quả âm tính, việc điều chỉnh dự phòng sẽ do nhân viên y tế quyết định.
- Bị động vật gặm nhấm hoặc gia súc cắn: Nguy cơ và hướng dự phòng cần được xem xét theo từng tình huống. Theo hướng dẫn được cung cấp, có thể cân nhắc chỉ định vắc xin mà không cần huyết thanh kháng dại.
:format(webp)/cac_cap_do_phoi_nhiem_benh_dai_va_huong_xu_tri_sau_khi_bi_dong_vat_can_8_31859a3e31.png)
Bệnh dại hoàn toàn có thể được phòng ngừa hiệu quả nếu người bị phơi nhiễm được xử trí đúng và kịp thời trước khi xuất hiện triệu chứng.
Sau khi bị động vật cắn hoặc cào, điều quan trọng là sơ cứu, xối rửa kỹ vết thương ngay, không tự xử lý bằng các phương pháp có thể làm tổn thương thêm và sớm đến cơ sở y tế, cũng như các đơn vị có chức năng cung ứng vắc xin, kháng huyết thanh chống bệnh dại. Việc xác định đúng các cấp độ phơi nhiễm bệnh dại sẽ giúp lựa chọn biện pháp dự phòng phù hợp nhằm loại trừ nguy cơ nhiễm và mắc bệnh dại.
:format(webp)/Desktop_ea96e0b958.png)
:format(webp)/Mobile_4fca6b9016.png)
:format(webp)/cac_cap_do_phoi_nhiem_benh_dai_va_huong_xu_tri_sau_khi_bi_dong_vat_can_11_840e4dba26.png)
:format(webp)/cac_cap_do_phoi_nhiem_benh_dai_va_huong_xu_tri_sau_khi_bi_dong_vat_can_2_2c645283da.png)
:format(webp)/cac_cap_do_phoi_nhiem_benh_dai_va_huong_xu_tri_sau_khi_bi_dong_vat_can_3_2_5ed17383af.png)
:format(webp)/cac_cap_do_phoi_nhiem_benh_dai_va_huong_xu_tri_sau_khi_bi_dong_vat_can_4_0286aa2bb1.png)
:format(webp)/DSC_04630_6b78c1a3ea.jpg)
:format(webp)/DSC_00446_d34f381993.jpg)
:format(webp)/vac_xin_indirab_00038150_1_88e62d4587.png)
![[Hỏi đáp] Lỡ lịch tiêm vắc xin RSV khi mang thai do bị sốt có cần tiêm lại không?](https://cdn.tiemchunglongchau.com.vn/unsafe/384x0/filters:quality(90):format(webp)/hoi_dap_lo_lich_tiem_vac_xin_rsv_khi_mang_thai_do_bi_sot_co_can_tiem_lai_khong_43d91f72a8.png)
![[Hỏi đáp] Sau tiêm vắc xin não mô cầu bị đau sưng tại chỗ tiêm có bình thường không?](https://cdn.tiemchunglongchau.com.vn/unsafe/384x0/filters:quality(90):format(webp)/hoi_dap_bac_si_sau_tiem_vac_xin_nao_mo_cau_bi_dau_sung_tai_cho_tiem_co_binh_thuong_khong_a1382cb629.png)
![[Hỏi đáp] Có cần kiêng ăn hoặc kiêng tắm sau khi tiêm vắc xin não mô cầu không?](https://cdn.tiemchunglongchau.com.vn/unsafe/384x0/filters:quality(90):format(webp)/hoi_dap_bac_si_co_can_kieng_an_hoac_kieng_tam_sau_khi_tiem_vac_xin_nao_mo_cau_khong_cac6ac04a1.png)
![[Hỏi đáp] Những ai cần trì hoãn tiêm vắc xin não mô cầu?](https://cdn.tiemchunglongchau.com.vn/unsafe/384x0/filters:quality(90):format(webp)/hoi_dap_bac_si_nhung_ai_can_tri_hoan_tiem_vac_xin_nao_mo_cau_d2c54cc432.png)
![[Hỏi đáp] Người đang dùng thuốc điều trị có tiêm vắc xin não mô cầu được không?](https://cdn.tiemchunglongchau.com.vn/unsafe/384x0/filters:quality(90):format(webp)/hoi_dap_bac_si_nguoi_dang_dung_thuoc_dieu_tri_co_tiem_vac_xin_nao_mo_cau_duoc_khong_bee9737972.png)