icon_app_03735b6399_696a3c8baf_193690009b

Tải ứng dụng Nhà Thuốc Long Châu để xem sổ tiêm chủng điện tử

Mở trong ứng dụng Nhà Thuốc Long Châu

Vắc xin Hexaxim

DSC_08495_4be894f61d
DSC_08497_31c9adad06
DSC_08500_f631c6889f
DSC_08502_4076ab3488
DSC_08501_566c607cf3
Mẫu mã sản phẩm có thể thay đổi theo lô hàng

6 trong 1 khác

BỉBỉ
DSC_04585_e6111ae6d8

995.000đ

/ Lọ

/ Lọ
DSC_08495_4be894f61d

Vắc xin Hexaxim

Phòng 6 trong 1

Vắc xin Hexaxim
Đơn vị
Đối tượng tiêmDành cho trẻ từ 2 tháng tuổi đến 2 tuổiNước sản xuất
PhápPháp
Nhà sản xuấtSANOFI WINTHROP INDUSTRIE
Vắc xin Hexaxim (Pháp) được chỉ định tiêm cho trẻ từ 2 tháng đến tròn 2 tuổi phòng chống các bệnh: Ho gà - Bạch hầu - Uốn ván - Bại liệt - Viêm gan B và các bệnh: Viêm phổi, viêm màng não mủ do H.Influenzae tuýp B. Trẻ nên hoàn thành 3 mũi cơ bản trước 6 tháng tuổi và hoàn thành mũi tiêm nhắc (mũi 4) trước 24 tháng tuổi.
GỢI Ý TRUNG TÂM GẦN BẠN

Hãy cấp quyền truy cập vị trí để xem trung tâm gần bạn.

Giới thiệu vắc xin Hexaxim

Thông tin vắc xin Hexaxim:

  • Phòng ngừa: Vắc xin Hexaxim giúp phòng ngừa 6 bệnh nguy hiểm: Bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, viêm gan B và các bệnh do vi khuẩn Haemophilus influenzae type b (Hib) gây ra, bảo vệ trẻ trước những bệnh truyền nhiễm có thể gây biến chứng nặng.
  • Độ tuổi: Trẻ từ 2 tháng đến tròn 2 tuổi. ​
  • Lịch tiêm chủng: 3 mũi cơ bản (2, 3, 4 tháng tuổi) và 1 mũi nhắc lại (16 - 18 tháng tuổi).
  • Hiệu quả bảo vệ: Vắc xin Hexaxim kích thích hệ miễn dịch tạo kháng thể mạnh mẽ, giúp giảm nguy cơ mắc bệnh và nhập viện, đặc biệt quan trọng trong những năm đầu đời của trẻ.
  • Phụ nữ mang thai: Vắc xin Hexaxim không được chỉ định cho phụ nữ mang thai.

Thông tin bệnh lý

Vắc xin 6 trong 1 phòng ngừa các bệnh: Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván, Bại liệt, Viêm phổi, Viêm màng não do HIB, Viêm gan B.

Bạch hầu là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm dễ lây qua đường hô hấp hoặc qua tiếp xúc với dịch tiết của người bệnh. Tỷ lệ tử vong cao nhất là ở trẻ dưới 5 tuổi, người lớn trên 40 tuổi. Tỉ lệ tử vong lên tới 50% nếu không được điều trị kịp thời. Biến chứng: Tắc nghẽn đường thở, viêm cơ tim, viêm đa dây thần kinh, suy thận,…

Ho gà là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn Bordetella Pertussis xâm nhập vào đường hô hấp. Các triệu chứng ban đầu của nhiễm trùng đường hô hấp không đặc hiệu, sau đó là ho dữ dội hoặc kiểu co thắt, thường kết thúc bằng thở rít, âm độ cao, giống như tiếng gà gáy (cơn ho gà). Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hàng năm có khoảng 30 - 50 triệu người mắc bệnh ho gà, và có đến 300.000 người tử vong. Trong đó, phần lớn các trường hợp tử vong đều là trẻ nhỏ, đặc biệt là ở trẻ từ 0 - 12 tháng tuổi.

Uốn ván là một bệnh nhiễm trùng cấp tính nặng nề, do ngoại độc tố của vi khuẩn uốn ván có tên Clostridium Tetani gây nên. Ngoại độc tố vào máu và tấn công vào các bản vận động thần kinh – cơ, làm cho bệnh nhân bị co cứng cơ và trên nền co cứng đó xuất hiện các cơn co giật. Uốn ván được đặc trưng bởi hiện tượng tăng trương lực cơ, các cơn co cơ cứng, suy hô hấp với tỷ lệ tử vong của bệnh uốn ván rất cao, dao động từ 25-90%, đặc biệt là tỷ lệ tử vong do uốn ván sơ sinh gần như là 100% nếu không được chăm sóc y tế (WHO).

Bại liệt là một bệnh nhiễm virus cấp tính lây truyền theo đường tiêu hóa do virus Polio gây nên, thường từ phân – miệng, có thể lây lan thành dịch. Có đến 90% người nhiễm bệnh không có triệu chứng hoặc chỉ có triệu chứng nhẹ và bệnh thường không được nhận biết. Ở những người khác, các triệu chứng ban đầu bao gồm sốt, mệt mỏi, đau đầu, nôn mửa, cứng cổ và đau nhức chân tay. Các triệu chứng này thường kéo dài từ 2-10 ngày và hầu hết đều hồi phục hoàn toàn trong hầu hết các trường hợp. Tuy nhiên, trong số các trường hợp còn lại, virus gây ra chứng liệt, thường là liệt chân, và thường là vĩnh viễn. Chứng liệt có thể xảy ra nhanh chóng chỉ trong vòng vài giờ sau khi nhiễm bệnh. Trong số những người bị liệt, 5-10% tử vong khi các cơ hô hấp của họ bị tê liệt.

Viêm phổi, viêm màng não do HIB là bệnh nhiễm trùng nghiêm trọng do vi khuẩn HIB gây ra. Vi khuẩn này thường xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, chẳng hạn như hít phải giọt bắn từ người bệnh hoặc người mang mầm bệnh. Bệnh do HIB có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng, bao gồm: Suy hô hấp, nhiễm trùng huyết, viêm màng não, viêm phổi. Viêm phổi, viêm màng não do HIB có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng thường gặp hơn ở trẻ từ 6 - 24 tháng. Tỷ lệ tử vong do viêm màng não do H. Influenzae có thể cao , dao động từ 5% nếu được điều trị đúng cách đến 60% nếu không được điều trị.

Viêm gan B là bệnh nhiễm trùng gan do virus viêm gan B (HBV) gây ra. Đây là một bệnh truyền nhiễm lây truyền qua đường máu, quan hệ tình dục không an toàn và từ mẹ sang con. Viêm gan B mạn tính có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng, bao gồm xơ gan, ung thư gan,... Khả năng lây nhiễm của virus HBV thì cao gấp 100 lần virus HIV. Theo WHO, ước tính có khoảng 8,7 triệu người đang sống chung với viêm gan B mạn tính và một triệu người mắc viêm gan C.

Phác đồ lịch tiêm

Lịch tiêm 4 mũi:

  • Mũi 1: Lần tiêm đầu tiên.
  • Mũi 2: 01 tháng sau mũi 1.
  • Mũi 3: 01 tháng sau mũi 2.
  • Mũi 4: 12 tháng sau mũi 3, có thể tiêm mũi 4 cách ≥ 6 tháng sau mũi 3 và nên hoàn thành trước 24 tháng.
  • Mũi tiêm nhắc bằng Tetraxim, Adacel hoặc Boostrix: Cách 03 năm sau mũi 4 hoặc lúc 4 - 6 tuổi.

Chống chỉ định

Quá mẫn với bất cứ thành phần nào trong vắc xin.

Nếu có biểu hiện bệnh não không rõ nguyên nhân trong vòng 07 ngày sau tiêm chủng vắc xin có thành phần ho gà trước đó.

Động kinh không kiểm soát hoặc bệnh não tiến triển.

Hoãn tiêm chủng

Bệnh lý cấp tính: Hoãn tiêm đến khi sức khỏe ổn định và hết sốt tối thiểu 03 ngày.

Bệnh bẩm sinh/mạn tính chưa ổn định.

Trẻ có tiền sử sốt cao co giật: Nên tiêm tại bệnh viện, cần phải theo dõi chặt chẽ trong vòng 2 - 3 ngày sau tiêm.

Các chú ý khác

Trẻ bị giảm tiểu cầu hay bị rối loạn đông máu vì có thể bị chảy máu sau khi tiêm bắp.

Tiền sử tiêm vắc xin có thành phần ho gà lần trước:

  • Sốt ≥ 40 độ C trong vòng 48 giờ sau tiêm mà không rõ nguyên nhân.
  • Trụy mạch, giảm trương lực cơ trong vòng 48 giờ sau tiêm.
  • Quấy khóc kéo dài ≥ 3 giờ trong vòng 48 giờ sau tiêm.
  • Co giật xảy ra trong vòng 3 ngày sau khi tiêm.

Hội chứng Guillain - Barré hay viêm dây thần kinh cánh tay sau tiêm vắc xin uốn ván.

Trẻ sinh non 28 - 36 tuần có tiền sử hô hấp chưa phát triển hoặc sinh cực non < 28 tuần: Chuyển tiêm tại bệnh viện mũi 1, các mũi sau nếu sức khỏe ổn định có thể tiêm tại Trung tâm Tiêm chủng Long Châu.

Miễn trừ trách nhiệm

Thông tin được cung cấp chỉ mang tính chất tham khảo, không thay thế ý kiến tham vấn y khoa. Trước khi đưa ra quyết định liên quan đến sức khỏe, bạn nên được bác sĩ thăm khám, chẩn đoán và điều trị theo hướng dẫn chuyên môn.
Liên hệ hotline 1800 6928 để được Bác sĩ Long Châu hỗ trợ nếu cần được tư vấn.
BS_Le_Thi_Giao_Thi_e8eda42850
Bác sĩ Chuyên khoa 1

Lê Thị Giao Thi

Đã kiểm duyệt nội dung

Với hơn 10 năm kinh nghiệm trong điều trị và phục hồi chức năng các bệnh lý cơ xương khớp, chấn thương và khám sàng lọc, chăm sóc sức khỏe ban đầu, tư vấn tiêm chủng và điều trị các bệnh lý ngoại trú. Được trang bị nền tảng đào tạo vững chắc cùng kinh nghiệm thực tiễn phong phú, bác sĩ luôn hướng đến việc nâng cao chất lượng sức khỏe cộng đồng với những giải pháp phòng bệnh và điều trị tối ưu.

Xem thêm

Câu hỏi thường gặp

Không được tiêm vắc xin Hexaxim cùng ngày với các loại vắc xin Thủy đậu.

Vắc xin Hexaxim và các vắc xin có cùng thành phần như vắc xin Bại liệt dạng tiêm (IPV), vắc xin Viêm gan B, vắc xin phòng các bệnh do Hib…: Nên tiêm cách nhau ít nhất 01 tháng.

Đối với vắc xin Bại liệt dạng uống (OPV): Không cần có khoảng cách khi tiêm Hexaxim.

Vắc xin Hexaxim chống chỉ định cho phụ nữ có thai và phụ nữ cho con bú.

Lịch tiêm vắc xin Hexaxim gồm 4 mũi:

  • Mũi 1: Lần tiêm đầu tiên.
  • Mũi 2: 01 tháng sau mũi 1.
  • Mũi 3: 01 tháng sau mũi 2.
  • Mũi 4: 12 tháng sau mũi 3.

Có thể tiêm mũi 4 cách ≥ 6 tháng sau mũi 3 và nên hoàn thành trước 24 tháng.

Vắc xin Hexaxim được dùng cho trẻ từ 02 tháng tuổi đến tròn 24 tháng tuổi.

Vắc xin Hexaxim là vắc xin 6 trong 1 do Sanofi Pasteur sản xuất, phòng được 6 bệnh Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván, Bại liệt, Viêm gan B, và các bệnh xâm lấn do Haemophilus influenzae tuýp b (Hib) gây ra (Viêm phổi, Viêm màng não mủ…).