Viêm tụy cấp là tình trạng viêm đột ngột tại tuyến tụy, thường gây đau dữ dội ở vùng thượng vị và có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm. Tuy nhiên, đau bụng hoặc tăng men tụy đơn độc chưa đủ để khẳng định bệnh trong mọi trường hợp. Bác sĩ cần kết hợp triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh.
Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm tụy cấp
Theo Phân loại Atlanta sửa đổi và hướng dẫn của American College of Gastroenterology (ACG), viêm tụy cấp được chẩn đoán khi người bệnh có ít nhất 2 trong 3 tiêu chí sau:
- Đau bụng điển hình: Cơn đau thường khởi phát đột ngột ở vùng thượng vị hoặc bụng trên, kéo dài và có thể lan ra sau lưng.
- Men tụy tăng cao: Nồng độ lipase và/hoặc amylase trong máu tăng ít nhất 3 lần so với giới hạn trên của mức bình thường.
- Hình ảnh học phù hợp: Hình ảnh đặc trưng của viêm tụy cấp trên CT có tiêm thuốc cản quang, MRI hoặc siêu âm qua thành bụng.
Không phải trường hợp nghi ngờ viêm tụy cấp nào cũng cần chụp CT ngay. Nếu người bệnh có cơn đau điển hình và men tụy tăng đạt ngưỡng chẩn đoán, hai tiêu chí này thường đã đủ để bác sĩ xác định bệnh.
Theo hướng dẫn ACG 2024, CT không được thực hiện thường quy ngay khi nhập viện nếu chẩn đoán đã rõ. Phương pháp này thường được cân nhắc khi chẩn đoán chưa chắc chắn hoặc người bệnh không cải thiện sau 48 - 72 giờ.
:format(webp)/tieu_chuan_chan_doan_viem_tuy_cap_va_cac_xet_nghiem_chan_doan_2_dbb3b9a095.jpg)
Dấu hiệu lâm sàng gợi ý viêm tụy cấp
Biểu hiện thường gặp nhất của viêm tụy cấp là đau vùng thượng vị hoặc vùng bụng trên. Cơn đau thường liên tục, có mức độ từ vừa đến dữ dội và có thể lan ra sau lưng. Một số người bệnh cảm thấy đau lan sang ngực hoặc hai bên hông.
Vị trí và cường độ đau không phản ánh chính xác mức độ nặng của viêm tụy cấp. Ngoài đau bụng, người bệnh có thể gặp:
- Buồn nôn hoặc nôn;
- Đau khi ấn vùng thượng vị;
- Chướng bụng;
- Sốt;
- Nhịp tim nhanh;
- Hạ huyết áp;
- Khó thở, thiểu niệu, rối loạn ý thức hoặc biểu hiện suy cơ quan trong trường hợp nặng.
Những triệu chứng này không đặc hiệu riêng cho viêm tụy cấp. Đau thượng vị cũng có thể xuất hiện trong bệnh lý dạ dày - tá tràng, túi mật, đường mật, ruột, mạch máu hoặc một số tình trạng tim mạch. Vì vậy, bác sĩ cần kết hợp thăm khám với xét nghiệm và hình ảnh học khi có chỉ định.
:format(webp)/tieu_chuan_chan_doan_viem_tuy_cap_va_cac_xet_nghiem_chan_doan_f912d8794b.jpg)
Các xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán tình trạng viêm tụy cấp
Lipase và amylase huyết thanh là hai men tụy được xét nghiệm khi nghi ngờ viêm tụy cấp. Nồng độ một trong hai men tăng ít nhất 3 lần giới hạn trên bình thường là một trong ba tiêu chuẩn chẩn đoán. Trong đó, lipase thường được ưu tiên hơn.
Xét nghiệm lipase
Lipase là enzyme tiêu hóa chất béo, được sản xuất chủ yếu tại tuyến tụy. Trong viêm tụy cấp, nồng độ lipase thường tăng và duy trì lâu hơn amylase, vì vậy có giá trị khi người bệnh đến khám muộn.
Lipase cũng có thể tăng trong suy thận, bệnh đường mật, bệnh lý ruột và một số tình trạng ngoài tụy. Do khoảng tham chiếu khác nhau giữa các phòng xét nghiệm, kết quả được đánh giá theo số lần vượt giới hạn trên bình thường thay vì một giá trị cố định.
:format(webp)/tieu_chuan_chan_doan_viem_tuy_cap_va_cac_xet_nghiem_chan_doan_4_5fd3a08ce0.jpg)
Xét nghiệm amylase
Amylase thường tăng trong những giờ đầu của viêm tụy cấp và có thể trở về bình thường sau khoảng 3 - 5 ngày. Vì vậy, kết quả có thể không còn tăng khi người bệnh đến khám muộn. Amylase cũng có thể không tăng đến ngưỡng chẩn đoán trong viêm tụy liên quan đến rượu hoặc tăng triglyceride máu.
Ngược lại, bệnh tuyến nước bọt, suy thận, bệnh đường mật và một số bệnh lý ruột cũng có thể làm tăng amylase. Sau khi đã xác định viêm tụy cấp, việc xét nghiệm lặp lại amylase hoặc lipase thường không giúp đánh giá mức độ nặng, đáp ứng điều trị hay tiên lượng.
Các xét nghiệm máu khác
Ngoài amylase và lipase, bác sĩ có thể chỉ định:
- Công thức máu;
- BUN, creatinine và điện giải;
- Đường huyết;
- AST, ALT, bilirubin và phosphatase kiềm;
- Triglyceride và calci máu;
- Một số chỉ dấu viêm khi cần thiết.
Các xét nghiệm này giúp tìm nguyên nhân, đánh giá tình trạng toàn thân và nguy cơ bệnh diễn tiến nặng. Trong giai đoạn đầu, BUN và hematocrit có thể được theo dõi để hỗ trợ đánh giá mức độ bệnh. Đây không phải là các tiêu chí độc lập giúp chẩn đoán bệnh.
Chẩn đoán hình ảnh trong viêm tụy cấp
Chẩn đoán hình ảnh chủ yếu được sử dụng để tìm nguyên nhân, đánh giá tổn thương và phát hiện biến chứng hoặc hỗ trợ chẩn đoán khi biểu hiện lâm sàng chưa rõ.
Siêu âm bụng
Siêu âm qua thành bụng thường được chỉ định ở người bệnh viêm tụy cấp nhằm tìm nguyên nhân đường mật, đặc biệt là:
- Sỏi túi mật;
- Giãn đường mật;
- Một số dấu hiệu gợi ý tắc nghẽn đường mật.
ACG 2024 gợi ý thực hiện siêu âm qua thành bụng ở người bệnh viêm tụy cấp để đánh giá nguyên nhân đường mật. Siêu âm có thể được lặp lại nếu kết quả lần đầu chưa rõ.
Siêu âm đôi khi quan sát được tụy phù hoặc dịch quanh tụy. Tuy nhiên, khí trong dạ dày và ruột có thể che khuất tuyến tụy, vì vậy phương pháp này không phải lúc nào cũng đánh giá đầy đủ tổn thương tụy hoặc mức độ hoại tử.
Chụp CT bụng
CT bụng, ưu tiên CT có tiêm thuốc cản quang khi không có chống chỉ định, giúp đánh giá:
- Mức độ viêm và phù nề của tuyến tụy;
- Hoại tử tụy hoặc mô quanh tụy;
- Các ổ tụ dịch và biến chứng tại chỗ;
- Những nguyên nhân khác gây đau bụng cấp.
CT không được khuyến cáo thực hiện thường quy ngay khi nhập viện chỉ để xác nhận chẩn đoán hoặc đánh giá mức độ nặng nếu chẩn đoán đã rõ và người bệnh đang cải thiện. Phương pháp này thường được cân nhắc khi:
- Chẩn đoán viêm tụy cấp chưa rõ;
- Cần loại trừ nguyên nhân đau bụng cấp khác;
- Tình trạng lâm sàng xấu đi hoặc nghi ngờ có biến chứng;
- Người bệnh không cải thiện sau 48 - 72 giờ điều trị, chẳng hạn vẫn đau bụng, sốt, buồn nôn hoặc không dung nạp được thức ăn.
:format(webp)/tieu_chuan_chan_doan_viem_tuy_cap_va_cac_xet_nghiem_chan_doan_3_908fceb1b3.jpg)
MRI và MRCP
MRI có thể được chỉ định khi cần đánh giá nhu mô tụy, mô quanh tụy và các ổ dịch, đặc biệt ở người bệnh không thể chụp CT có tiêm thuốc cản quang iod. MRI không sử dụng tia X và có khả năng phân biệt dịch với mô hoại tử hoặc mảnh vụn đặc trong các ổ tụ dịch quanh tụy.
MRCP là kỹ thuật cộng hưởng từ giúp khảo sát không xâm lấn hệ thống đường mật và ống tụy. Phương pháp này có thể hỗ trợ phát hiện:
- Sỏi ống mật chủ;
- Tắc nghẽn hoặc giãn đường mật;
- Bất thường ống tụy;
- Các bất thường giải phẫu của hệ thống tụy - mật.
Siêu âm nội soi
Siêu âm nội soi (EUS) được cân nhắc khi chưa xác định được nguyên nhân viêm tụy cấp. Phương pháp này giúp phát hiện sỏi nhỏ, bùn mật, bất thường ống tụy hoặc khối u tụy mà siêu âm qua thành bụng có thể bỏ sót.
Chẩn đoán viêm tụy cấp cần dựa trên sự kết hợp giữa triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh. Việc nhận biết sớm các dấu hiệu và thực hiện xét nghiệm phù hợp giúp xác định bệnh, đánh giá mức độ tổn thương và hỗ trợ điều trị kịp thời, hạn chế nguy cơ biến chứng.
:format(webp)/Desktop_ea96e0b958.png)
:format(webp)/Mobile_4fca6b9016.png)
:format(webp)/phong_lab_la_gi_cac_loai_phong_lab_pho_bien_va_nguyen_tac_an_toan_can_biet_5_9f9a66a8e1.jpg)
:format(webp)/tam_van_dong_khop_vai_va_nhung_dieu_can_biet_4_0eb860b865.png)
:format(webp)/dich_tui_cung_la_gi_nguyen_nhan_va_nhung_dieu_can_biet_0_d1d7579a9b.png)
:format(webp)/tui_cung_douglas_la_gi_va_vai_tro_trong_chan_doan_benh_phu_khoa_0_8481a9fc2f.png)
:format(webp)/giam_dinh_tam_than_la_gi_quy_trinh_va_cac_truong_hop_can_thuc_hien_1_0d76328da4.jpg)