icon_app_03735b6399_696a3c8baf_193690009b

Tải ứng dụng Nhà Thuốc Long Châu để xem sổ tiêm chủng điện tử

Mở trong ứng dụng Nhà Thuốc Long Châu

470051785_8767135473405056_691967411107495592_n_6b2bbff755467434554_545745841560409_1066418224364723785_n_560a494f9c
benh_a_z_polyp_hau_mon_4d31632991benh_a_z_polyp_hau_mon_4d31632991

Polyp hậu môn là gì? Triệu chứng, nguyên nhân và phương pháp điều trị

Đàm Thu Thảo06/01/2026

Polyp trong đường tiêu hóa là một bệnh lý khác phổ biến, đặc biệt là ở đại tràng và trực tràng. Mặc dù đa số các polyp thường lành tính, nhưng do chúng có khả năng tiến triển thành ung thư đại trực tràng khiến việc tầm soát và điều trị sớm trở nên vô cùng quan trọng. Bài viết này sẽ đi sâu vào định nghĩa, triệu chứng, tác động, các yếu tố rủi ro và phương pháp quản lý các loại polyp phổ biến ảnh hưởng đến khu vực hậu môn và đại trực tràng.

Tìm hiểu chung về polyp hậu môn

Polyp là một bệnh lý liên quan đến sự tăng sinh mô bất thường. Polyp hậu môn là khối u hình thành trong ống hậu môn hoặc sa ra ngoài sau khi đại tiện, thường có cảm giác đau và chảy máu tươi. Các triệu chứng như đau, chảy máu có thể khiến người bệnh nhầm lẫn với bệnh trĩ nhưng về bản chất đây là 2 bệnh lý khác nhau. Trong khi polyp hậu môn là khối u lành tính phát triển từ niêm mạc ruột, thì trĩ là tình trạng tĩnh mạch bị sưng phồng, sa giãn ở hậu môn hoặc trực tràng. 

Các nhà nghiên cứu sức khỏe  phân loại polyp đại tràng theo nhiều cách qua đặc điểm hình dạng polyp hoặc đặc điểm dưới kính hiển vi gồm:

Phân loại theo hình dạng:

  • Polyp có cuống có hình dáng giống cây nấm - có "đầu" và "cuống".
  • Polyp không cuống thì không có cuống, trông giống như một khối u nổi lên với đế rộng.

Phân loại theo khả năng hóa ác chỉ ra liệu polyp có thể phát triển thành ung thư hay không.

  • Polyp tân sinh: Là dạng polyp có thể phát triển thành ung thư. Polyp tuyến chiếm khoảng 80% tổng số polyp đại tràng. Khoảng 75% ung thư đại trực tràng bắt đầu từ polyp tuyến. Chỉ khoảng 5% polyp tuyến thực sự ác tính. Các loại polyp tuyến bao gồm tuyến ống, tuyến nhung mao và tuyến ống nhung mao. Các tổn thương răng cưa gồm tổn thương răng cưa không cuống và polyp tuyến răng cưa truyền thống.
  • Polyp không tân sinh: Không thể phát triển thành ung thư gồm polyp tăng sản, polyp vị thành niên, polyp viêm là vết loét đã lành tạo thành vết sẹo giống nốt sần, thường do viêm đại tràng mãn tính liên quan đến bệnh viêm ruột (IBD).
  • Polyp xơ biểu mô ở hậu môn: Đây là các tổn thương polypoid lành tính mắc phải ở ống hậu môn, còn được gọi là nhú hậu môn phì đại. Chúng thường bắt nguồn từ nhú hậu môn, nơi giao nhau giữa niêm mạc và da ở ống hậu môn trên. Polyp xơ biểu mô là những tăng sinh lành tính bao gồm mô đệm xơ hoặc collagenous được bao phủ bởi biểu mô vảy. Việc tăng sinh này được coi là phản ứng phì đại của da hậu môn đã biến đổi do kích ứng, chấn thương hoặc nhiễm trùng mãn tính.

Triệu chứng polyp hậu môn

Những dấu hiệu và triệu chứng của polyp hậu môn

Hầu hết các polyp hậu môn thường không gây ra bất kỳ triệu chứng nào. Đây là lý do tại sao việc tầm soát bệnh trước khi có triệu chứng lại quan trọng. Thông thường, khi các triệu chứng xuất hiện, polyp có thể đã phát triển thành ung thư. Các khối polyp thường có các đặc điểm sau:

  • Các polyp thường không gây đau trừ khi bị xoắn, viêm nhiễm hoặc có kích thước lớn.
  • Máu thường có màu đỏ tươi, xuất hiện trên giấy vệ sinh hoặc bề mặt phân.
  • Khối polyp có thể có cuống dài và sa ra ngoài khi đi đại tiện, đôi khi có thể bị xoắn gây đau bên trong ống hậu môn.
  • Ít tiết dịch tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn.

Đối với polyp xơ biểu mô các triệu chứng có thể bao gồm:

  • Gây khó chịu ở hậu môn, cảm giác có dị vật vướng trong hậu môn.
  • Ngứa hậu môn
  • Tiết chất nhầy.
  • Khó chịu khi ngồi.
Chảy máu đỏ tươi hoặc máu lẫn trong phân là triệu chứng thường gặp của polyp hậu môn
Chảy máu đỏ tươi hoặc máu lẫn trong phân là triệu chứng thường gặp của polyp hậu môn

Tác động của polyp hậu môn với sức khỏe 

Polyp có thể là một tình trạng nghiêm trọng vì chúng có khả năng chuyển thành ung thư. Mặc dù hầu hết polyp không phải là ung thư khi được tìm thấy, nhưng nếu không được điều trị kịp thời  một số loại có thể phát triển thành ung thư theo thời gian. Nguy cơ một polyp ngẫu nhiên có kích thước trung bình trở thành ung thư được ước tính là 8% trong 10 năm và 24% trong 20 năm.

Biến chứng có thể gặp khi mắc polyp hậu môn

Biến chứng quan trọng nhất của polyp là phát triển thành ung thư. Các biến chứng khác bao gồm:

  • Thiếu máu: Thiếu máu xảy ra do sự mất máu rỉ rả mãn tính từ polyp. Thiếu máu có thể gây ra nhiều triệu chứng gồm mệt mỏi, chóng mặt, nhức đầu, da xanh xao, tim đập nhanh, khó thở và các vấn đề về tóc, móng.
  • Rò hậu môn hoặc nứt kẽ hậu môn: Polyp xơ biểu mô và nhú hậu môn phì đại thường liên quan đến bệnh lý hậu môn mãn tính như rò hậu môn hoặc nứt kẽ hậu môn mãn tính.
  • Tắc ruột: Là một biến chứng cực kỳ hiếm gặp, thường xảy ra do một polyp xơ biểu mô khổng lồ làm tắc nghẽn lòng ruột.
  • Các vấn đề về điện giải: Mất cân bằng điện giải có thể được phát hiện qua xét nghiệm máu.

Khi nào cần gặp bác sĩ?

Vì hầu hết polyp không gây triệu chứng, việc thực hiện tầm soát định kỳ (như nội soi đại tràng) là cách tốt nhất để tìm và loại bỏ chúng trước khi chúng kịp trở thành ung thư. Tuy nhiên, bạn cần liên hệ với bác sĩ ngay lập tức nếu gặp bất kỳ triệu chứng nào sau đây:

  • Đau hoặc khó chịu dữ dội ở vùng trực tràng/hậu môn.
  • Thay đổi thói quen đi tiêu kéo dài hơn một tuần (tiêu chảy hoặc táo bón).
  • Giảm cân không rõ nguyên nhân.
  • Có khối u hoặc sưng tấy gần hậu môn.
  • Máu trong phân.

Nguyên nhân gây polyp hậu môn

Nguyên nhân chính gây ra polyp hậu môn thường liên quan đến đột biến gen. Các tế bào trong niêm mạc đại tràng/hậu môn thường xuyên tự thay thế, do đó có nhiều cơ hội xảy ra lỗi di truyền. Khi mã di truyền thay đổi, chúng phát triển khác biệt, không tự chết đi theo chu trình tự nhiên dẫn đến hình thành polyp.

Hầu hết polyp đại tràng là tự phát - nghĩa là chúng xảy ra ngẫu nhiên. Tuy nhiên, một số người mắc các hội chứng di truyền, các tình trạng được truyền qua gia đình, gây ra số lượng lớn các loại polyp nhất định và có nguy cơ ung thư cao hơn.

Đối với polyp xơ biểu mô, nguyên nhân xuất hiện không phải do đột biến gen, mà liên quan đến phản ứng tăng sinh quá mức của mô liên kết dưới biểu mô anoderm trước sự kích ứng, chấn thương hoặc nhiễm trùng mãn tính.

Hội chứng đa polyp tuyến gia đình (FAP) làm tăng đáng kể nguy cơ hình thành polyp ở hậu môn
Hội chứng đa polyp tuyến gia đình (FAP) làm tăng đáng kể nguy cơ hình thành polyp ở hậu môn

Nguy cơ mắc phải polyp hậu môn

Những ai có nguy cơ mắc phải polyp hậu môn?

Nguy cơ mắc polyp và ung thư hậu môn liên quan đến mọi đối tượng, không phân biệt giới tính. Polyp đại tràng là phổ biến, đặc biệt là khi chúng ta già đi, chúng ảnh hưởng đến khoảng 20% người lớn nói chung và khoảng 40% người trên 50 tuổi. 

Yếu tố làm tăng nguy cơ mắc phải polyp hậu môn

Một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh gồm:

  • Tiền sử gia đình cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng, trong đó có người thân cấp độ một (cha mẹ, anh chị em ruột) đã mắc polyp đại tràng hoặc ung thư đại trực tràng thì bạn có nguy cơ mắc bệnh cao hơn.
  • Mắc các hội chứng di truyền cũng là một yếu tố nguy cơ vì chúng có thể gây ra nhiều polyp và mang nguy cơ ung thư cao hơn như đa polyp tuyến gia đình, hội chứng Peutz-Jeghers, đa polyp liên quan đến MUTYH, hội chứng Gardner, hội chứng đa polyp răng cưa,....
  • Các yếu tố rủi ro môi trường (liên quan đến nơi sống và lối sống) có thể góp phần vào việc hình thành polyp tự phát như hút thuốc lá, nghiện rượu, chế độ ăn nhiều chất béo và ít chất xơ, béo phì, bệnh đái tháo đường,...

Phương pháp chẩn đoán và điều trị polyp hậu môn

Phương pháp xét nghiệm và chẩn đoán polyp hậu môn

Đối với polyp xơ biểu mô hoặc polyp trực tràng/ hậu môn, bác sĩ có thể sờ thấy các polyp trong quá trình khám trực tràng bằng tay. Ngoài ra để chẩn đoán bệnh cần sự hỗ trợ của các cận lâm sàng khác như:

  • Nội soi đại tràng: Nội soi đại tràng là một thủ thuật sử dụng camera soi bên trong đại tràng/ hậu môn, giúp bác sĩ tìm và loại bỏ polyp ngay trong cùng một thủ thuật. Bác sĩ có thể đưa dụng cụ qua ống nội soi để cắt bỏ polyp hoặc lấy mẫu mô. Mẫu polyp sau đó được gửi đến phòng thí nghiệm để kiểm tra dưới kính hiển vi để xác định loại polyp và kiểm tra tế bào ung thư.
  • Xét nghiệm phân: Xét nghiệm máu ẩn trong phân để tìm kiếm dấu vết máu vi thể. Các xét nghiệm khác xem xét DNA trong phân để tìm thay đổi gợi ý ung thư.
  • Xét nghiệm máu: Tổng phân tích máu (CBC) có thể tìm thấy bằng chứng thiếu máu do chảy máu mãn tính. Nếu có hội chứng di truyền trong gia đình, bệnh nhân có thể làm xét nghiệm gen.
Điều trị ngoại khoa được thực hiện tùy thuộc vào kích thước, vị trí polyp và tình trạng bệnh
Điều trị ngoại khoa được thực hiện tùy thuộc vào kích thước, vị trí polyp và tình trạng bệnh

Phương pháp điều trị polyp hậu môn

Nội khoa

Ung thư: Nếu polyp được phát hiện đã chuyển thành ung thư, bệnh nhân có thể cần các phương pháp điều trị bổ sung như hóa trị hoặc xạ trị tùy thuộc vào giai đoạn và bản chất của ung thư.

Polyp do ký sinh trùng: Trong trường hợp hiếm gặp, polyp hậu môn do nhiễm Schistosoma mansoni (sán máng), việc điều trị bao gồm sử dụng thuốc chống ký sinh trùng như praziquantel.

Ngoại khoa

Cắt bỏ polyp: Hầu hết các polyp được loại bỏ trong quá trình nội soi đại tràng bằng thủ thuật đơn giản gọi là polypectomy. Việc loại bỏ polyp tân sinh giúp giảm 80% nguy cơ phát triển ung thư đại trực tràng.

Các thủ thuật đặc biệt: Thỉnh thoảng, một số polyp lớn hơn có thể yêu cầu các thủ thuật đặc biệt để loại bỏ, chẳng hạn như cắt bỏ niêm mạc qua nội soi (EMR) hoặc cắt bỏ dưới niêm mạc qua nội soi (ESD).

Phẫu thuật: Nếu polyp quá lớn hoặc đã được xác định là ung thư, bác sĩ có thể đề nghị phẫu thuật, thường sử dụng các kỹ thuật xâm lấn tối thiểu như nội soi ổ bụng.

Điều trị polyp xơ biểu mô: Polyp xơ biểu mô (hoặc nhú hậu môn phì đại) gây triệu chứng hoặc có kích thước lớn nên được cắt bỏ và kiểm tra mô học. Các phương pháp loại bỏ bao gồm cắt bỏ tại chỗ bằng cách sử dụng các thiết bị hàn mạch máu lưỡng cực điện nhiệt hoặc dao điện.

Chế độ sinh hoạt và phòng ngừa polyp hậu môn

Những thói quen sinh hoạt có thể giúp bạn hạn chế diễn tiến của polyp hậu môn

Mặc dù không có cách nào để ngăn chặn hoàn toàn các đột biến gen gây ra polyp, nhưng việc chăm sóc sức khỏe tổng thể tốt có thể giúp giảm thiểu rủi ro.

Chế độ sinh hoạt

Những thay đổi trong lối sống có thể giúp duy trì sức khỏe đại tràng và giảm rủi ro:

  • Tập thể dục thường xuyên: Tập thể dục đều đặn giúp thúc đẩy nhu động ruột khỏe mạnh.
  • Duy trì cân nặng vừa phải: Giảm cân nặng hợp lý giúp giảm áp lực lên tĩnh mạch trực tràng, tránh các bệnh lý khác ở vùng hậu môn gây viêm nhiễm.
  • Tránh ngồi lâu: Đặc biệt là tránh ngồi quá lâu trên bồn cầu.
  • Tránh các yếu tố nguy cơ: Tránh hút thuốc và uống rượu nặng.

Chế độ dinh dưỡng

Chế độ ăn uống đóng vai trò quan trọng trong việc giảm nguy cơ phát triển polyp:

  • Tăng cường chất xơ: Ăn chế độ ăn nhiều chất xơ giúp ngăn ngừa táo bón và giảm căng thẳng khi đi tiêu, từ đó giảm áp lực lên niêm mạc trực tràng/hậu môn.
  • Thực phẩm nguyên chất: Ăn nhiều thực phẩm nguyên chất.
  • Giảm chất béo: Giảm tiêu thụ chất béo động vật.
  • Uống đủ nước: Giữ cơ thể đủ nước bằng cách uống nhiều nước để làm mềm phân và giảm nguy cơ táo bón.
Sau khi cắt polyp, người bệnh nên ưu tiên thức dễ tiêu hóa và chế biến đơn giản
Sau khi cắt polyp, người bệnh nên ưu tiên thức dễ tiêu hóa và chế biến đơn giản

Phương pháp phòng ngừa polyp hậu môn

Phòng ngừa không đặc hiệu tập trung vào việc giảm thiểu các yếu tố rủi ro môi trường và lối sống như thực hiện chế độ ăn uống và sinh hoạt lành mạnh như đã đề cập ở trên (tăng chất xơ, tập thể dục, tránh hút thuốc/rượu).

Miễn trừ trách nhiệm

Thông tin được cung cấp chỉ mang tính chất tham khảo, không thay thế ý kiến tham vấn y khoa. Trước khi đưa ra quyết định liên quan đến sức khỏe, bạn nên được bác sĩ thăm khám, chẩn đoán và điều trị theo hướng dẫn chuyên môn.
Liên hệ hotline 1800 6928 để được Bác sĩ Long Châu hỗ trợ nếu cần được tư vấn.

Câu hỏi thường gặp

Trong quá trình nội soi đại tràng, việc tìm thấy số lượng polyp dao động từ không có đến một vài cái được coi là bình thường. Tuy nhiên, các bác sĩ sẽ đặc biệt chú ý đến số lượng, kích thước, vị trí và loại polyp được tìm thấy. Vì polyp phát triển rất chậm, việc có ít polyp và polyp nhỏ hơn đồng nghĩa với việc bạn vẫn có nguy cơ phát triển ung thư đại trực tràng tương đối thấp. Bạn có thể có nguy cơ mắc ung thư cao hơn nếu có hơn ba polyp, polyp có kích thước lớn hơn 10mm, các loại polyp cụ thể như adenoma nhung mao hoặc ống nhung mao, tổn thương răng cưa không cuống hoặc adenoma răng cưa,.....

Trong những trường hợp hiếm gặp, polyp ở trực tràng hoặc hậu môn có thể liên quan đến các nguyên nhân không phải do di truyền hoặc viêm mãn tính thông thường, chẳng hạn như ký sinh trùng. Trong đó có polyp sán máng (Schistosomal polyps) là những khối u hạt tương đối hiếm gặp, hình thành do các dạng tăng sản của bệnh sán máng. Nếu polyp được xác định là do ký sinh trùng gây ra, chẳng hạn như do Schistosoma mansoni, bệnh nhân sẽ được điều trị bằng thuốc chống ký sinh trùng như praziquantel. Sau khi điều trị, niêm mạc trực tràng có thể trở lại bình thường và các xét nghiệm phân có thể cho kết quả âm tính.

Tần suất tầm soát lần tiếp theo phụ thuộc vào kết quả nội soi trước đó và các yếu tố rủi ro. Nếu không tìm thấy polyp tân sinh nào, bạn có thể không cần nội soi lại trong 10 năm. Nếu bạn đã cắt bỏ polyp tân sinh, bác sĩ sẽ đề nghị quay lại sau 1, 3, 5 hoặc 7 năm, tùy thuộc vào nguy cơ tái phát của bạn (dựa trên số lượng, kích thước và loại polyp đã cắt).

Bạn hoàn toàn có thể mắc cả trĩ và polyp hậu môn cùng một lúc. Trĩ là các tĩnh mạch bị sưng phòng ở trực tràng dưới và hậu môn, trong khi polyp là các khối tăng trưởng mô bất thường trên niêm mạc đại tràng hoặc trực tràng. Chúng là hai tình trạng riêng biệt có thể xuất hiện cùng nhau.

Polyp nếu phát triển đủ lớn có thể sa ra khỏi hậu môn. Trường hợp này hiếm gặp và các polyp lớn như vậy thường là polyp xơ biểu mô hoặc polyp tuyến đã phát triển đến kích thước khổng lồ và bị đẩy ra ngoài trong quá trình đại tiện.