Trong giai đoạn 3 tháng đầu thai kỳ, nước ối đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ phôi thai, hỗ trợ trao đổi chất, hình thành cơ quan và đảm bảo môi trường phát triển ổn định. Khi xảy ra thiểu ối 3 tháng đầu, các chức năng này có thể bị ảnh hưởng, kéo theo nhiều nguy cơ cho thai nhi. Vì vậy, mẹ bầu cần hiểu rõ nguyên nhân, dấu hiệu nhận biết và biện pháp xử trí kịp thời.
Thiểu ối 3 tháng đầu là gì?
Thiểu ối 3 tháng đầu là tình trạng lượng nước ối thấp hơn mức bình thường khi màng ối vẫn còn nguyên. Về mặt y khoa, thiểu ối thường được xác định khi chỉ số nước ối (AFI) < 5cm hoặc thể tích nước ối giảm đáng kể so với tuổi thai.
Trong 3 tháng đầu, nước ối chủ yếu được tạo ra từ huyết tương của mẹ và màng ối, giữ vai trò:
- Bảo vệ thai nhi khỏi tác động bên ngoài.
- Giúp hạn chế chèn ép cơ học lên cơ thể thai.
- Tạo môi trường để cơ quan của thai phát triển, đặc biệt là phổi và xương.
- Hỗ trợ trao đổi chất, vận động và tăng trưởng toàn diện.
Thiểu ối xảy ra trong giai đoạn sớm có thể để lại hậu quả nặng nề hơn so với thiểu ối ở cuối thai kỳ.

Nguyên nhân gây thiểu ối 3 tháng đầu
Thiểu ối trong tam cá nguyệt thứ nhất (≤13 tuần thai kỳ) là tình trạng hiếm gặp, nhưng khi xuất hiện thường liên quan đến các yếu tố bệnh lý nghiêm trọng và tiên lượng thai kỳ kém.
Nguyên nhân từ mẹ
Một số bệnh lý hoặc yếu tố sức khỏe của mẹ có thể làm giảm lượng nước ối trong giai đoạn sớm, gồm:
- Tăng huyết áp hoặc tiền sản giật sớm: Gây giảm tưới máu nhau thai, giảm tạo nước ối.
- Bệnh thận: Rối loạn lọc máu dẫn đến giảm sản xuất nước ối.
- Tiểu đường không kiểm soát: Ảnh hưởng tuần hoàn và trao đổi chất, giảm lượng dịch ối.
- Mất nước, suy dinh dưỡng hoặc chế độ ăn kém: Khiến cơ thể mẹ không đủ nước để hình thành ối.
- Sử dụng thuốc: Đặc biệt là thuốc ức chế men chuyển (ACE inhibitors), thuốc chống viêm NSAID, có thể làm giảm dòng máu đến bánh nhau.
Nguyên nhân từ thai nhi
Một số bất thường của thai trong giai đoạn hình thành cơ quan có thể gây thiểu ối sớm:
- Bất thường nhiễm sắc thể như hội chứng Turner, trisomy 18…
- Dị tật bẩm sinh, nhất là dị tật thận - tiết niệu khiến thai không tạo được nước tiểu, giảm nước ối.
- Thai chậm phát triển trong tử cung khiến lưu lượng máu bánh nhau giảm, giảm sản xuất nước ối.

Nguyên nhân khác
- Rò rỉ nước ối sớm: Dù hiếm gặp ở 3 tháng đầu nhưng vẫn có thể xảy ra do nhiễm trùng, tổn thương màng ối, thủ thuật xâm lấn.
- Nhiễm trùng trong thai kỳ: Viêm màng ối - màng đệm có thể làm giảm chất lượng và số lượng nước ối.
- Tác động từ môi trường: Mẹ tiếp xúc hóa chất độc hại, stress kéo dài, làm giảm khả năng cung cấp máu cho nhau thai.
Dấu hiệu nhận biết
Ở giai đoạn sớm, thiểu ối thường khó phát hiện vì thai còn nhỏ. Tuy nhiên, một số dấu hiệu có thể gợi ý:
- Bụng nhỏ hơn so với tuổi thai: Do lượng nước ối không đủ để tử cung giãn nở như bình thường.
- Khó cảm nhận cử động thai: Thời điểm này thai vẫn rất nhỏ, nhưng mẹ có thể cảm thấy ít hoặc hoàn toàn không cảm nhận được các chuyển động.
- Siêu âm cho thấy lượng nước ối thấp: Chỉ số AFI giảm, buồng ối hẹp, các phần thai áp sát thành tử cung.
Siêu âm là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán thiểu ối 3 tháng đầu.
Nguy cơ khi bị thiểu ối sớm
Thiểu ối trong tam cá nguyệt đầu được xem là tình trạng có mức độ nguy hiểm cao hơn các giai đoạn sau. Những nguy cơ thường gặp gồm:
Ảnh hưởng đến sự phát triển phổi và xương
Phổi thai nhi cần nước ối để giãn nở và hoàn thiện cấu trúc. Khi thiếu nước ối, phổi có nguy cơ thiểu sản, khiến trẻ khó thở sau sinh. Ngoài ra, thiếu không gian vận động có thể gây biến dạng chi, hạn chế phát triển khung xương hoặc gây tật bẩm sinh.
Chèn ép dây rốn
Dây rốn dễ bị ép giữa thai và thành tử cung khi lượng nước ối không đủ. Điều này có thể làm giảm lưu lượng máu, gây thiếu oxy, suy thai hoặc khiến thai phát triển chậm lại.

Nguy cơ sảy thai hoặc thai lưu
Do thai nhi đang trong giai đoạn hình thành các cơ quan quan trọng, thiểu ối sớm làm tăng nguy cơ:
- Không hoàn thiện cơ quan.
- Ngừng phát triển.
- Thai lưu hoặc sảy thai tự nhiên.
Tỷ lệ biến chứng này cao hơn đáng kể so với thiểu ối ở tam cá nguyệt thứ hai hoặc thứ ba.
Cách xử trí và phòng ngừa
Dưới đây là một số cách xử trí và phòng ngừa thiểu ối trong tam cá nguyệt thứ nhất:
Uống đủ nước và bổ sung điện giải
Tăng lượng nước uống mỗi ngày giúp cải thiện lưu lượng máu từ mẹ đến nhau thai, qua đó hỗ trợ tăng lượng nước ối. Khi cần thiết, bác sĩ có thể chỉ định sử dụng dung dịch điện giải hoặc truyền dịch.
Khám thai và siêu âm định kỳ
Theo dõi sát lượng nước ối, tình trạng thai, chỉ số phát triển để kịp thời phát hiện thay đổi bất thường. Đối với mẹ từng bị thiểu ối, bác sĩ có thể cho theo dõi dày hơn.

Điều trị bệnh lý nền
Quản lý tốt huyết áp, tiểu đường, bệnh thận… giúp giảm nguy cơ tái phát thiểu ối. Mẹ không nên tự ý dùng thuốc và cần thông báo cho bác sĩ về tất cả thuốc đang sử dụng.
Can thiệp y khoa khi cần
Trong trường hợp thiểu ối nặng hoặc không cải thiện, bác sĩ có thể cân nhắc:
- Truyền dịch vào buồng ối (amnioinfusion) trong những trường hợp đặc biệt.
- Nhập viện để theo dõi sát tình trạng thai.
- Xử lý nguyên nhân gốc như điều trị nhiễm trùng hoặc nghi ngờ rò ối.
Việc điều trị cần được thực hiện tại cơ sở y tế chuyên khoa sản - phụ khoa để đảm bảo an toàn.
Tóm lại, thiểu ối 3 tháng đầu là tình trạng tiềm ẩn nhiều nguy cơ cho cả mẹ và thai, đặc biệt vì đây là giai đoạn hình thành cơ quan quan trọng. Việc nhận biết sớm, thăm khám định kỳ và tuân thủ hướng dẫn điều trị của bác sĩ sẽ giúp mẹ chủ động bảo vệ thai kỳ. Khi có bất kỳ dấu hiệu bất thường nào, mẹ bầu nên đến cơ sở y tế uy tín để được kiểm tra và can thiệp kịp thời, đảm bảo hành trình mang thai diễn ra an toàn và khỏe mạnh.
:format(webp)/470051785_8767135473405056_691967411107495592_n_6b2bbff755.png)
:format(webp)/467434554_545745841560409_1066418224364723785_n_560a494f9c.png)
/Cac_goi_xet_nghiem_NIPT_hien_nay_4e0a3e7ff7.jpg)
/xet_nghiem_nipt_biet_duoc_nhung_gi_khi_nao_can_thuc_hien_4_1be3b0674a.png)
/do_mo_da_gay_cao_nhung_nipt_binh_thuong_1_f851ad013e.jpg)