Không sai khi nói rằng bệnh thủy đậu là một bệnh lưu hành toàn cầu vì mức độ lây lan mạnh mẽ. Và không chỉ là trên thế giới, tỷ lệ mắc thủy đậu tại Việt Nam mặc dù đã giảm do nỗ lực của nhà nước trong công tác phòng ngừa bằng vắc xin, nhưng gần đây nó đã có dấu hiệu tăng trở lại.
:format(webp)/su_can_thiet_cua_viec_tiem_phong_thuy_dau_cac_bang_chung_khoa_hoc_ve_tinh_hieu_qua_va_an_toan_cua_vac_xin_heading2_1_f9d4901d46.png)
Bệnh thủy đậu, hay còn gọi là Varicella, là một bệnh truyền nhiễm do virus Varicella-zoster gây ra, thuộc họ Herpesviridae. Bệnh này đặc trưng bởi những nốt phát ban như mụn nước trên da, ngứa, sốt và biểu hiện mệt mỏi.
Thủy đậu có con đường lây truyền khá dễ dàng - chỉ cần tiếp xúc trực tiếp hoặc qua giọt bắn, khí dung đường hô hấp và tiếp xúc với dịch từ tổn thương da. Báo cáo về tình hình vắc xin và tiêm chủng trên thế giới năm 2009 của WHO (Tổ chức Y tế Thế giới) ghi nhận rằng bệnh thủy đậu có khả năng lây nhiễm cao, với >90% dân số chưa có miễn dịch sẽ mắc bệnh trong đời ở khu vực chưa tiêm chủng.
Các đặc điểm lây truyền của thủy đậu có thể kể đến là:
:format(webp)/su_can_thiet_cua_viec_tiem_phong_thuy_dau_cac_bang_chung_khoa_hoc_ve_tinh_hieu_qua_va_an_toan_cua_vac_xin_1_f3aac175d0.png)
Như vậy, một đặc điểm quan trọng trong dịch tễ học của thủy đậu, đó là bệnh có thể lây lan cao kể cả khi người nhiễm chưa có triệu chứng gì.
Tại Việt Nam, số liệu trên Tạp chí Nhi khoa năm 2019 cho thấy nguy cơ nhiễm thủy đậu vẫn rất lớn đặc biệt trong giai đoạn mùa đông xuân (tức từ tháng 12 đến tháng 5 hàng năm), và có tới 85% trẻ em nhập viện chưa được tiêm vắc xin thủy đậu trước đó.
Ngoài ra, báo cáo của Chương trình Tiêm chủng mở rộng quốc gia năm 2020 đã dự báo tình hình dịch tễ thủy đậu ở miền Nam Việt Nam vẫn có thể diễn biến phức tạp.
:format(webp)/su_can_thiet_cua_viec_tiem_phong_thuy_dau_cac_bang_chung_khoa_hoc_ve_tinh_hieu_qua_va_an_toan_cua_vac_xin_heading2_2_62dd7393d7.png)
Thủy đậu về cơ bản vẫn là một bệnh nhẹ. Tuy nhiên, trong một số ít trường hợp, bệnh có thể gây ra những biến chứng khá nghiêm trọng. Các biến chứng phổ biến nhất và đôi khi sẽ đe dọa đến tính mạng của bệnh thủy đậu là:
- Nhiễm khuẩn da thứ phát, có thể dẫn đến nhập viện, hiếm khi tử vong nếu được điều trị kịp thời, chủ yếu do tụ cầu vàng hoặc liên cầu khuẩn gây ra.
- Viêm phổi thủy đậu: Là biến chứng phổ biến nhất ở người lớn, đa số rất nghiêm trọng.
- Các biến chứng liên quan đến dạ dày - ruột bao gồm các tình trạng như viêm gan, hiếm gặp viêm tụy.
- Các biến chứng tại não bao gồm: Viêm tiểu não, viêm não và viêm màng não
- Các biến chứng tim mạch có thể bao gồm viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim và viêm mạch máu.
:format(webp)/su_can_thiet_cua_viec_tiem_phong_thuy_dau_cac_bang_chung_khoa_hoc_ve_tinh_hieu_qua_va_an_toan_cua_vac_xin_inforgraphic_a8360260ec.png)
Biến chứng thủy đậu ở phụ nữ mang thai
Bệnh thủy đậu ở phụ nữ mang thai có thể nặng hơn ở những người lớn bình thường rất nhiều. Theo WHO, những hậu quả khi người mẹ mắc thủy đậu khi mang thai là:
- Khả năng viêm phổi nghiêm trọng. Theo nghiên cứu năm 2011 đăng trên BJOG (Tạp chí Quốc tế về Sản phụ khoa), có nguy cơ viêm phổi nặng hơn, tỷ lệ cần hỗ trợ hô hấp cao hơn dân số chung và tỷ lệ tử vong cao hơn hẳn những nhóm đối tượng không mang thai.
- Khả năng gây ra hội chứng thủy đậu bẩm sinh cho trẻ khi vừa sinh ra.
- Khả năng đe dọa tính mạng và biến chứng nặng nề cho trẻ sơ sinh, đặc biệt khi mẹ mắc thủy đậu trong vòng 5 ngày trước và 2 ngày sau khi sinh.
Biến chứng thủy đậu ở trẻ sơ sinh
Khi trẻ mới sinh ra, sẽ rất nguy hiểm nếu bé mắc phải hội chứng thủy đậu bẩm sinh (CVS). Đây là tình trạng dị dạng hay khuyết tật bẩm sinh do nhiễm trùng thông qua hàng rào nhau thai từ người mẹ mắc bệnh. Theo các nghiên cứu trên BJOG, CVS là biến chứng hiếm, với tỷ lệ khoảng 0,4 - 2% khi mẹ nhiễm trong thai kỳ sớm: 70% ở da, 48 - 62% ở hệ thống thần kinh, và 44 - 52% ở mắt.
:format(webp)/su_can_thiet_cua_viec_tiem_phong_thuy_dau_cac_bang_chung_khoa_hoc_ve_tinh_hieu_qua_va_an_toan_cua_vac_xin_text_1_e4f317686e.png)
Tại Việt Nam, các số liệu cũng cho ra những kết quả đáng báo động:
- Nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 09/2015 đến tháng 03/2018 trên 268 trẻ em nhập viện vì thủy đậu cho thấy 41% trẻ xuất hiện biến chứng, trong đó 20% có từ hai biến chứng trở lên.
- Dữ liệu từ chương trình Giám sát Quốc gia tại Trung tâm Bệnh Nhiệt Đới và Bệnh viện Nhi Trung Ương cho biết, đối với trẻ chưa có miễn dịch từ vắc xin, nguy cơ biến chứng cao hơn rõ rệt ở trẻ chưa có miễn dịch.
Theo thông tin từ Trung tâm Kiểm soát Dịch bệnh Hoa Kỳ (US CDC), vào đầu những năm 1990, trước khi có vắc xin, số người mắc thủy đậu đã vượt quá 4 triệu, khoảng 13.000 ca nhập viện, 100 - 150 ca tử vong và một nửa trong số đó là trẻ em.
Hoa Kỳ đã tiến hành triển khai chương trình tiêm vắc xin thủy đậu cho trẻ em từ 12 tháng tuổi trở lên, bắt đầu từ năm 1995 và mang về những kết quả tích cực. Chương trình đã góp phần giảm đến 97% tỷ lệ tử vong liên quan đến thủy đậu.
Tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, các báo cáo đều cho thấy vắc xin thủy đậu đã làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh sau khi triển khai tiêm chủng diện rộng.
Số liệu từ các báo cáo cho thấy vắc xin thủy đậu đã làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh, từ đó góp phần làm giảm đáng kể tỷ lệ tử vong và nhập viện do biến chứng.
Tương tự, tỷ lệ mắc thủy đậu tại Việt Nam đã giảm mạnh sau khi có vắc xin phòng ngừa, từ khoảng 36.000 ca vào năm 2009 còn khoảng 4.000 ca vào tháng 07/2023 (theo dữ liệu của Cục Y tế Dự phòng).
Mặc dù vậy, tình hình mắc thủy đậu đang có dấu hiệu tăng trở lại. Dữ liệu từ Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Thành phố Hồ Chí Minh (HCDC) chỉ ra rằng hàng tháng vẫn ghi nhận các trường hợp mắc bệnh này, đặc biệt là trong khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng 3.
:format(webp)/su_can_thiet_cua_viec_tiem_phong_thuy_dau_cac_bang_chung_khoa_hoc_ve_tinh_hieu_qua_va_an_toan_cua_vac_xin_heading2_4_33e9bd09ec.png)
Qua những thông tin phía trên, không thể phủ định sự cần thiết của vắc xin trong việc phòng ngừa thủy đậu và những biến chứng nguy hiểm của nó. Vắc xin thủy đậu là vắc xin sống giảm độc lực, tức là virus Varicella-zoster đã được làm yếu đi sẽ được cơ thể tiếp nhận và sinh ra miễn dịch đặc hiệu.
Nhiều tổ chức y tế uy tín toàn cầu, bao gồm Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Trung tâm Kiểm soát Dịch bệnh Hoa Kỳ (US CDC), Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Châu Âu (ECDC) và Hiệp hội Nhiễm trùng Nhi khoa Mỹ Latinh (SLIPE), đều khuyến cáo việc tiêm vắc xin thủy đậu cho trẻ em. Thời điểm lý tưởng để thực hiện liều vắc xin đầu tiên là khi trẻ được 12 tháng tuổi, liều 2 từ 4 - 6 tuổi hoặc ≥ 3 tháng sau liều 1.
Tại sao lại là thời điểm 12 tháng tuổi? Theo dữ liệu từ kết quả của các nghiên cứu lâm sàng, với trẻ từ 12 tháng tuổi sẽ có đáp ứng miễn dịch tối ưu nhất (được thể hiện qua: Tỷ lệ chuyển đảo huyết thanh, phòng tránh nhiễm bệnh, hoặc giảm mức độ bệnh, giảm tỷ lệ nhập viện, giảm nguy cơ gặp biến chứng…), đồng thời miễn dịch thụ động do mẹ truyền sang (nếu có) tới thời điểm này cũng không còn ảnh hưởng.
Vắc xin Varivax do Merck Sharp & Dohme Corp (MSD) sản xuất và các vắc xin thủy đậu khác đã được chứng minh về tính hiệu quả và an toàn, hiệu quả ≥ 85% phòng bệnh, gần 100% phòng bệnh nặng qua nhiều bằng chứng y khoa đáng tin cậy.
:format(webp)/su_can_thiet_cua_viec_tiem_phong_thuy_dau_cac_bang_chung_khoa_hoc_ve_tinh_hieu_qua_va_an_toan_cua_vac_xin_2_549715eaf5.png)
Thủy đậu từ lâu đã là một vấn đề y tế toàn cầu cần được chú trọng. Việc tiêm vắc xin phòng bệnh thủy đậu đóng vai trò then chốt trong việc ngăn ngừa những biến chứng nghiêm trọng có thể xảy ra do bệnh này. Tại Việt Nam, cần đẩy mạnh công tác tiêm ngừa vắc xin thủy đậu để tối ưu hóa những lợi ích mà vắc xin mang lại.
Để đảm bảo sức khỏe tối ưu, hãy chủ động tiêm phòng vắc xin thủy đậu theo khuyến cáo của các chuyên gia y tế. Nếu bạn cần tư vấn thêm về lịch tiêm chủng hoặc thông tin chi tiết, hãy liên hệ với Trung tâm Tiêm chủng Long Châu. Với dịch vụ tiêm chủng an toàn, chất lượng và đội ngũ y tế tận tâm, Long Châu sẵn sàng đồng hành cùng bạn trong việc phòng ngừa thủy đậu và bảo vệ sức khỏe toàn diện.
:format(webp)/470051785_8767135473405056_691967411107495592_n_6b2bbff755.png)
:format(webp)/467434554_545745841560409_1066418224364723785_n_560a494f9c.png)
:format(webp)/su_can_thiet_cua_viec_tiem_phong_thuy_dau_cac_bang_chung_khoa_hoc_ve_tinh_hieu_qua_va_an_toan_cua_vac_xin_0_9ebc522d7f.png)
:format(webp)/su_can_thiet_cua_viec_tiem_phong_thuy_dau_cac_bang_chung_khoa_hoc_ve_tinh_hieu_qua_va_an_toan_cua_vac_xin_mobile_96497f127d.png)
:format(webp)/su_can_thiet_cua_viec_tiem_phong_thuy_dau_cac_bang_chung_khoa_hoc_ve_tinh_hieu_qua_va_an_toan_cua_vac_xin_heading2_3_bd0ce03d39.png)
:format(webp)/barycela_inj_00049352_1_54d794e682.jpg)
:format(webp)/DSC_04410_43bc7346be.jpg)
:format(webp)/DSC_08582_3f953b0018.jpg)
:format(webp)/Illus_Goi_blue_2_10add6a475.png)
:format(webp)/Illus_Goi_blue_8a16579a53.png)
:format(webp)/Illus_Goi_blue_1_e4effbd2a2.png)
:format(webp)/co_nen_doi_dich_roi_moi_tiem_hieu_dung_de_bao_ve_suc_khoe_kip_thoi_1_5be1c8ee7c.png)
:format(webp)/cham_dut_benh_lao_co_kha_thi_cap_nhat_xet_nghiem_chan_doan_moi_nhat_tu_who_giup_phat_hien_som_0_15ef06d02e.png)
:format(webp)/rsv_o_nguoi_lon_tuoi_moi_nguy_thuong_bi_xem_nhe_1_b6ec125c3c.png)
:format(webp)/me_nen_cham_soc_va_phuc_hoi_co_the_sau_sinh_nhu_the_nao_fac58d55db.png)
:format(webp)/phu_huynh_nen_lam_gi_khi_em_be_khoc_1a8a22154f.png)