Ống dẫn trứng là một phần quan trọng của hệ thống sinh sản nữ, đảm nhận vai trò đưa trứng từ buồng trứng về phía tử cung và là nơi tinh trùng có thể gặp trứng để thụ tinh. Khi ống dẫn trứng bị tổn thương, tắc nghẽn hoặc mắc bệnh lý, bác sĩ có thể cân nhắc các phương pháp can thiệp phù hợp. Trong đó, cắt bỏ ống dẫn trứng là một thủ thuật được chỉ định trong một số tình huống nhất định. Hiểu rõ mục đích, chỉ định, ảnh hưởng và quá trình hồi phục giúp phụ nữ chủ động hơn trước khi lựa chọn phương pháp này.
Cắt ống dẫn trứng là gì?
Vòi trứng là bộ phận có vai trò dẫn trứng từ buồng trứng về phía tử cung. Phẫu thuật cắt bỏ ống dẫn trứng là phương pháp loại bỏ một phần hoặc toàn bộ ống dẫn trứng, tùy theo phạm vi can thiệp:
- Cắt một bên: Chỉ loại bỏ ống dẫn trứng ở một phía.
- Cắt hai bên: Loại bỏ cả hai ống dẫn trứng.
Thủ thuật này có thể được tiến hành riêng lẻ hoặc thực hiện đồng thời với một số phẫu thuật khác như cắt buồng trứng, cắt tử cung hoặc mổ lấy thai.
:format(webp)/cat_ong_dan_trung_la_gi_va_nhung_dieu_can_biet_1_2e3a721e9b.png)
Khi nào cần thực hiện phẫu thuật?
Cắt bỏ ống dẫn trứng là một phương pháp phẫu thuật được chỉ định trong một số tình trạng bệnh lý ảnh hưởng đến hệ thống sinh sản nữ. Tùy vào tình trạng cụ thể, bác sĩ có thể cân nhắc thực hiện thủ thuật này khi người bệnh gặp các vấn đề như:
- Thai ngoài tử cung;
- Ống dẫn trứng bị tắc, ở một bên hoặc cả hai bên;
- Ống dẫn trứng bị vỡ;
- Viêm nhiễm tại vòi trứng;
- Ung thư ống dẫn trứng.
Ung thư ống dẫn trứng được xem là bệnh lý hiếm gặp, thường được ghi nhận nhiều hơn ở những phụ nữ mang đột biến gen BRCA. Tuy nhiên, không phải tất cả người mang đột biến này đều có tổn thương tại ống dẫn trứng.
Một số nghiên cứu cho thấy, nguồn gốc của một số dạng ung thư buồng trứng có thể liên quan đến các tế bào nằm bên trong ống dẫn trứng. Vì vậy, việc loại bỏ vòi trứng được kỳ vọng có thể góp phần giảm khả năng phát triển ung thư buồng trứng ở một số trường hợp phù hợp. Bên cạnh mục đích điều trị hoặc dự phòng bệnh lý, cắt bỏ ống dẫn trứng còn có thể được thực hiện như một biện pháp tránh thai vĩnh viễn, hay còn gọi là triệt sản nữ.
:format(webp)/cat_ong_dan_trung_la_gi_va_nhung_dieu_can_biet_2_dd7e72c963.png)
Hướng dẫn chăm sóc và theo dõi sau phẫu thuật
Quá trình hồi phục không chỉ phụ thuộc vào phương pháp phẫu thuật mà còn liên quan đến việc chăm sóc và theo dõi sức khỏe sau can thiệp. Trong những giờ đầu, người bệnh sẽ được chuyển đến khu vực hồi sức để kiểm tra tình trạng sau gây mê. Cảm giác chưa tỉnh táo hoàn toàn, buồn nôn hoặc đau nhẹ quanh vùng phẫu thuật có thể xuất hiện và thường cần được theo dõi thêm.
Trước khi xuất viện
Người bệnh chỉ được trở về nhà khi tình trạng đủ ổn định, có thể tự đứng lên, đi lại và thực hiện tiểu tiện bình thường. Thời gian theo dõi tại khoa ngoại trú sẽ tùy thuộc vào diễn biến sức khỏe của từng trường hợp.
Trong thời gian nghỉ ngơi tại nhà
Cần duy trì chế độ sinh hoạt theo hướng dẫn của bác sĩ, ưu tiên nghỉ ngơi và tránh những hoạt động gây áp lực lên cơ thể. Đặc biệt, không nên nâng hoặc mang vật nặng, đồng thời hạn chế vận động, tập luyện với cường độ cao trong ít nhất 1 tuần đầu.
Theo dõi các biểu hiện bất thường
Người bệnh cần chủ động liên hệ với bác sĩ nếu nhận thấy một trong những dấu hiệu sau:
- Sốt hoặc xuất hiện tình trạng ớn lạnh;
- Đau nhiều tại vị trí phẫu thuật hoặc kèm buồn nôn;
- Vùng da quanh vết mổ sưng đỏ, có dịch hoặc mủ;
- Âm đạo chảy máu nhiều bất thường và xảy ra đột ngột;
- Không thể tiểu tiện.
:format(webp)/cat_ong_dan_trung_la_gi_va_nhung_dieu_can_biet_3_d1fa4650bc.png)
Thời gian phục hồi
Vết rạch của phẫu thuật nội soi thường nhỏ hơn mổ hở nên quá trình lành thương có xu hướng thuận lợi và nhanh hơn. Tùy từng người, thời gian để cơ thể hồi phục hoàn toàn có thể khác nhau. Thông thường, mổ hở cần khoảng 3 - 6 tuần, còn phẫu thuật nội soi mất khoảng 2 - 4 tuần.
Những rủi ro có thể gặp sau phẫu thuật
Dù được thực hiện bằng kỹ thuật nội soi hay mổ hở, phẫu thuật cắt bỏ ống dẫn trứng vẫn có khả năng phát sinh một số rủi ro. Đáng chú ý, nội soi thường cần nhiều thời gian thực hiện hơn mổ hở nên thời gian người bệnh được gây mê cũng kéo dài hơn.
Một số biến chứng có thể xảy ra gồm:
- Nhiễm trùng: Nguy cơ nhiễm trùng sau phẫu thuật nội soi nhìn chung thấp hơn so với phương pháp mổ hở.
- Chảy máu: Người bệnh có thể bị xuất huyết bên trong ổ bụng hoặc chảy máu tại khu vực can thiệp phẫu thuật.
- Thoát vị ổ bụng: Biến chứng này có thể xuất hiện sau quá trình phẫu thuật.
- Tổn thương mạch máu và cơ quan lân cận: Trong quá trình thực hiện, các mạch máu hoặc cơ quan nằm gần vị trí phẫu thuật có thể bị tổn thương.
Nhìn chung, các biến chứng sau phẫu thuật cắt bỏ ống dẫn trứng khá hiếm gặp. Một nghiên cứu ở những phụ nữ thực hiện cắt vòi trứng đồng thời với mổ lấy thai cũng ghi nhận tỷ lệ biến chứng ở mức rất thấp.
:format(webp)/cat_ong_dan_trung_la_gi_va_nhung_dieu_can_biet_4_9c817673df.png)
Cắt ống dẫn trứng có thể được chỉ định trong điều trị một số bệnh lý hoặc thực hiện với mục đích triệt sản. Nếu buồng trứng được bảo tồn, thủ thuật thường không trực tiếp làm mất chức năng nội tiết hoặc gây mãn kinh. Khả năng mang thai sau phẫu thuật phụ thuộc vào số lượng ống dẫn trứng còn lại và sức khỏe sinh sản tổng thể. Vì vậy, người bệnh nên trao đổi kỹ với bác sĩ về chỉ định, lợi ích, nguy cơ và các lựa chọn bảo tồn trước khi phẫu thuật, đặc biệt khi vẫn có nhu cầu sinh con trong tương lai.
:format(webp)/dieu_tri_dot_dien_sinh_ly_dieu_tri_ngoai_tam_thu_that_chi_phi_bao_nhieu_1_f182fe3829.jpg)
:format(webp)/lieu_phap_CBT_I_chua_mat_ngu_1_cd8e0a088c.jpg)
:format(webp)/lieu_phap_emdr_la_gi_1_7f6e4ebeda.jpg)
:format(webp)/lieu_phap_tam_ly_nhom_1_1049ce0afd.jpg)
:format(webp)/cpap_la_gi_giai_phap_ho_tro_ho_hap_khong_xam_lan_hieu_qua_1_bc9d1a1188.jpg)