Bả vai nhô cao có thể khiến hai bên vai mất cân đối, đôi khi kèm đau, yếu hoặc hạn chế vận động. Tình trạng này có thể liên quan đến rối loạn chức năng cơ, tổn thương thần kinh, chấn thương hoặc bất thường bẩm sinh và cần xác định đúng nguyên nhân để xử trí phù hợp.
Xương bả vai nhô cao là tình trạng gì?
Xương bả vai (scapula) là xương dẹt, hình tam giác nằm ở phía sau lồng ngực. Xương này kết nối với xương đòn và xương cánh tay, đồng thời là nơi bám của nhiều cơ tham gia ổn định và vận động vùng vai. Sự phối hợp giữa xương bả vai, cơ và khớp vai giúp cánh tay thực hiện các động tác như nâng, đẩy, kéo và xoay.
“Xương bả vai nhô cao” là cách mô tả khi một hoặc cả hai xương bả vai trông nổi rõ, nằm cao hoặc mất cân xứng so với bên còn lại. Biểu hiện này có thể dễ nhận thấy hơn khi người bệnh vận động cánh tay.
Cần phân biệt tình trạng trên với xương bả vai có cánh. Đây là hiện tượng bờ hoặc góc xương bả vai nhô khỏi thành ngực do các cấu trúc giúp giữ ổn định xương bả vai hoạt động bất thường, thường liên quan đến yếu hoặc liệt cơ. Tổn thương thần kinh chi phối các cơ ổn định bả vai là một nguyên nhân quan trọng.
Ngoài ra, không phải trường hợp nhìn thấy xương bả vai rõ đều là bệnh lý. Hình thể cơ thể, khối lượng cơ và tư thế cũng có thể làm đường nét xương bả vai dễ nhận thấy hơn. Nếu có sự thay đổi rõ rệt giữa hai bên hoặc xuất hiện thêm đau, yếu và hạn chế vận động, người bệnh nên được thăm khám.
:format(webp)/xuong_ba_vai_nho_cao_la_gi_nguyen_nhan_va_khi_nao_can_di_kham_1_b5708d52cb.jpg)
Vì sao xương bả vai bị nhô cao?
Xương bả vai nhô bất thường có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Đặc điểm bả vai nhô ra khỏi thành ngực cũng cần được phân biệt với bả vai thực sự nằm cao do bất thường bẩm sinh.
Tư thế và thói quen sinh hoạt
Tư thế của cột sống, lồng ngực và vai có thể ảnh hưởng đến vị trí, hướng và cách xương bả vai chuyển động trong quá trình vận động của cánh tay. Việc duy trì một số tư thế trong thời gian dài, chẳng hạn như ngồi lâu với vai đưa ra trước, có thể làm thay đổi cơ học vùng vai và khiến hai bên bả vai trông không cân xứng hoặc một bên nổi rõ hơn.
Bên cạnh đó, ít vận động hoặc thường xuyên thực hiện các động tác lặp lại của vai và cánh tay có thể ảnh hưởng đến sức mạnh, độ linh hoạt và khả năng kiểm soát của các cơ quanh xương bả vai. Những yếu tố này có thể góp phần làm thay đổi chuyển động bình thường của bả vai.
:format(webp)/xuong_ba_vai_nho_cao_la_gi_nguyen_nhan_va_khi_nao_can_di_kham_4_957af86dd4.jpg)
Yếu hoặc rối loạn chức năng cơ quanh vai
Xương bả vai được giữ ổn định trên thành ngực nhờ sự phối hợp của nhiều nhóm cơ, trong đó có cơ răng trước, cơ thang và các cơ trám.
Khi các cơ này bị yếu, liệt hoặc hoạt động không đồng bộ, vị trí và chuyển động bình thường của xương bả vai có thể thay đổi. Bờ trong hoặc góc của bả vai khi đó có thể nhô rõ hơn, đặc biệt trong lúc thực hiện một số động tác của cánh tay.
Tổn thương thần kinh
Một trong những nguyên nhân quan trọng của xương bả vai có cánh là tổn thương các dây thần kinh chi phối cơ ổn định bả vai.
Tổn thương thần kinh ngực dài có thể làm yếu hoặc liệt cơ răng trước, khiến bờ trong xương bả vai nhô khỏi thành ngực. Đây là một trong những nguyên nhân thường gặp của scapular winging.
Ngoài ra, tổn thương thần kinh phụ ảnh hưởng đến cơ thang hoặc hiếm hơn là thần kinh vai lưng ảnh hưởng đến cơ trám cũng có thể gây những kiểu nhô bả vai khác nhau.
Chấn thương
Chấn thương vùng vai, cổ hoặc lưng trên có thể ảnh hưởng đến cơ, dây thần kinh hoặc các cấu trúc giúp ổn định xương bả vai. Khi những cấu trúc này bị tổn thương, bả vai có thể mất ổn định, nhô rõ hoặc mất cân xứng khi vận động.
Biến dạng Sprengel
Ở trẻ em, một nguyên nhân đặc biệt cần phân biệt là biến dạng Sprengel, một dị tật xương bả vai bẩm sinh hiếm gặp. Dị tật này xảy ra khi xương bả vai không di chuyển xuống vị trí bình thường trong quá trình phát triển, khiến một bên bả vai nằm cao hơn bình thường, thường kèm theo bất thường về hình dạng hoặc hướng xoay của xương. Biến dạng có thể ảnh hưởng đến thẩm mỹ và hạn chế vận động vai.
Biến dạng Sprengel cũng có thể đi kèm một số bất thường ở cột sống và vùng vai. Vì vậy, trẻ có một bên bả vai cao rõ từ nhỏ nên được thăm khám chuyên khoa để đánh giá và có hướng xử trí phù hợp.
:format(webp)/xuong_ba_vai_nho_cao_la_gi_nguyen_nhan_va_khi_nao_can_di_kham_2_5ee50fdd3f.jpg)
Nhận biết xương bả vai bị nhô cao bất thường
Biểu hiện có thể khác nhau tùy nguyên nhân. Người bệnh hoặc người thân có thể nhận thấy:
- Hai bên vai hoặc bả vai mất cân xứng rõ;
- Một bờ xương bả vai nhô khỏi thành ngực;
- Bả vai nhô rõ hơn khi nâng hoặc di chuyển cánh tay;
- Đau, khó chịu hoặc mỏi vùng vai;
- Yếu vai hoặc cánh tay;
- Khó nâng tay lên cao;
- Giảm phạm vi vận động của vai;
- Hình dạng vùng vai và lưng trên thay đổi.
Trong trường hợp nghi ngờ scapular winging, bác sĩ có thể quan sát vị trí xương bả vai ở trạng thái nghỉ và trong quá trình vận động. Một số kiểu bả vai có cánh do yếu cơ răng trước có thể trở nên rõ hơn khi người bệnh thực hiện động tác đẩy vào tường.
Tuy nhiên, động tác này chỉ giúp quan sát biểu hiện và không đủ để tự chẩn đoán nguyên nhân. Việc đánh giá còn phụ thuộc vào kiểu nhô của bả vai, sức cơ, phạm vi vận động, tiền sử chấn thương và các triệu chứng thần kinh.
Khi cần thiết, bác sĩ có thể chỉ định các phương tiện chẩn đoán phù hợp nhằm tìm nguyên nhân, chẳng hạn chẩn đoán hình ảnh hoặc các xét nghiệm đánh giá chức năng thần kinh - cơ.
:format(webp)/xuong_ba_vai_nho_cao_la_gi_nguyen_nhan_va_khi_nao_can_di_kham_3_4a8b855970.jpg)
Khi nào bả vai nhô cao cần đi khám?
Không phải trường hợp xương bả vai bị nhô cao nào cũng cần điều trị. Tuy nhiên, người bệnh nên đi khám nếu tình trạng xuất hiện đột ngột, ngày càng rõ hoặc ảnh hưởng đến chức năng của vai.
Đặc biệt, nên được bác sĩ đánh giá khi có một trong các biểu hiện sau:
- Bả vai nhô bất thường sau chấn thương;
- Một bên bả vai cao hoặc nhô rõ hơn bên còn lại;
- Đau vai kéo dài hoặc tăng dần;
- Yếu vai hoặc cánh tay;
- Khó hoặc không thể nâng tay như bình thường;
- Xuất hiện tê, yếu hoặc các triệu chứng thần kinh khác;
- Tình trạng ảnh hưởng đáng kể đến sinh hoạt hàng ngày;
- Trẻ có một bên bả vai nằm cao rõ hoặc bất thường đã xuất hiện từ nhỏ.
Việc điều trị phụ thuộc hoàn toàn vào nguyên nhân. Một số trường hợp liên quan đến rối loạn chức năng cơ hoặc tổn thương thần kinh có thể được điều trị bảo tồn với điều chỉnh hoạt động và vật lý trị liệu; các trường hợp khác có thể cần can thiệp chuyên sâu hơn. Vì vậy, người bệnh không nên tự tập các bài “ép bả vai” hoặc điều trị theo kinh nghiệm khi chưa xác định nguyên nhân.
Nhìn chung, xương bả vai nhô cao là biểu hiện có thể liên quan đến nhiều yếu tố, từ đặc điểm cơ thể và chức năng cơ vùng vai đến tổn thương thần kinh hoặc bất thường bẩm sinh. Nếu bả vai mất cân xứng rõ, đau, yếu hoặc hạn chế vận động, người bệnh nên thăm khám để xác định nguyên nhân và có hướng theo dõi, điều trị phù hợp.
:format(webp)/protein_thuc_vat_tot_cho_xuong_va_cach_bo_sung_hieu_qua_5_cdf0068ad4.jpg)
:format(webp)/nguyen_nhan_ngu_day_bi_dau_co_khong_quay_duoc_va_cach_xu_tri_4_6a09c05dd0.jpg)
:format(webp)/nguyen_nhan_sang_ngu_day_bi_dau_long_ban_chan_cach_xu_ly_hieu_qua_1_fe88bee25a.png)
:format(webp)/xo_hoa_co_delta_la_gi_trieu_chung_nguyen_nhan_va_cach_phong_ngua_3_1add0d36d2.png)
:format(webp)/bat_san_xuong_mui_la_gi_phuong_phap_chan_doan_1_f35df03edb.png)