Iod phóng xạ đã được sử dụng trong điều trị một số bệnh tuyến giáp trong nhiều năm. Phương pháp này nhìn chung có hiệu quả và được dung nạp tốt khi có chỉ định phù hợp, nhưng vẫn có tác dụng phụ và yêu cầu về an toàn bức xạ. Hiểu đúng các nguy cơ giúp người bệnh chuẩn bị và tuân thủ hướng dẫn sau điều trị.
Iod phóng xạ là gì?
Iod phóng xạ (radioactive iodine - RAI), thường sử dụng đồng vị iod-131 (I-131) trong điều trị, là một dạng iod phát ra bức xạ. Tuyến giáp có khả năng hấp thu iod để sản xuất hormone, vì vậy I-131 có thể tập trung tại mô tuyến giáp và phá hủy các tế bào hấp thu iod.
:format(webp)/tac_hai_cua_iod_phong_xa_va_nhung_luu_y_sau_dieu_tri_2_b360a6eb08.png)
Iod phóng xạ được sử dụng để điều trị cường giáp và trong một số trường hợp ung thư tuyến giáp biệt hóa. Với ung thư tuyến giáp, iod phóng xạ có thể được dùng sau phẫu thuật nhằm phá hủy mô tuyến giáp còn lại hoặc điều trị mô ung thư còn khả năng bắt iod. Không phải mọi trường hợp ung thư tuyến giáp đều cần iod phóng xạ.
Do phần lớn các mô khác không tập trung iod mạnh như tuyến giáp, tác động của iod phóng xạ tập trung chủ yếu vào mô bắt iod. Tuy nhiên, iod phóng xạ vẫn lưu thông và được đào thải khỏi cơ thể, đồng thời một số mô như tuyến nước bọt cũng có thể tiếp xúc với iod phóng xạ. Vì vậy, phương pháp này không hoàn toàn không có tác dụng ngoài ý muốn.
:format(webp)/tac_hai_cua_iod_phong_xa_va_nhung_luu_y_sau_dieu_tri_1_f1505c62ec.png)
Tác hại của iod phóng xạ
Tác dụng phụ của iod phóng xạ khác nhau tùy liều điều trị và tình trạng của người bệnh. Liều sử dụng cho ung thư tuyến giáp thường cao hơn liều điều trị cường giáp, do đó không nên áp dụng cùng một mức nguy cơ cho mọi trường hợp.
Đau hoặc sưng vùng cổ
Sau điều trị, một số người có thể cảm thấy đau hoặc khó chịu nhẹ ở vùng tuyến giáp, đôi khi tương tự đau họng. Đây thường là biểu hiện tạm thời do mô tuyến giáp phản ứng sau khi hấp thu iod phóng xạ.
Ảnh hưởng đến tuyến nước bọt
Tuyến nước bọt cũng có thể tiếp xúc với iod phóng xạ. Người bệnh có thể gặp sưng đau tuyến nước bọt, khô miệng hoặc thay đổi vị giác. Với một số trường hợp, đặc biệt sau liều điều trị cao hoặc tích lũy nhiều lần, rối loạn chức năng tuyến nước bọt có thể kéo dài.
Hiệu quả và thời điểm tối ưu của các biện pháp kích thích tiết nước bọt sau điều trị iod phóng xạ chưa được xác định chắc chắn, một số dữ liệu cho thấy kích thích quá sớm có thể làm tăng liều bức xạ vào tuyến nước bọt.
:format(webp)/tac_hai_cua_iod_phong_xa_va_nhung_luu_y_sau_dieu_tri_3_80cd0486e1.png)
Khô mắt và thay đổi vị giác
Khô mắt, đau họng, giảm hoặc thay đổi vị giác có thể xảy ra, đặc biệt ở người điều trị RAI cho ung thư tuyến giáp. Một số trường hợp cũng có thể gặp vấn đề liên quan đến tuyến lệ hoặc đường dẫn nước mắt.
Suy giáp
Sau điều trị cường giáp bằng iod phóng xạ, chức năng tuyến giáp có thể giảm và người bệnh có thể phát triển suy giáp, khi đó cần sử dụng hormone tuyến giáp thay thế. Với người đã phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp do ung thư, nhu cầu dùng hormone tuyến giáp lâu dài chủ yếu liên quan đến việc tuyến giáp đã được cắt bỏ, vì vậy không nên quy hoàn toàn cho iod phóng xạ.
Ảnh hưởng tạm thời đến khả năng sinh sản
Ở nam giới điều trị ung thư tuyến giáp bằng iod phóng xạ, số lượng tinh trùng có thể giảm tạm thời, đặc biệt khi sử dụng liều cao hoặc nhiều đợt. Ở phụ nữ, chu kỳ kinh nguyệt có thể thay đổi tạm thời sau điều trị. Tuy nhiên, không nên diễn giải rằng iod phóng xạ thông thường chắc chắn gây vô sinh vĩnh viễn. Đặc biệt không dùng RAI cho người đang mang thai và cho con bú.
:format(webp)/tac_hai_cua_iod_phong_xa_va_nhung_luu_y_sau_dieu_tri_4_040c4bcbcc.png)
Cần lưu ý gì sau khi điều trị bằng iod phóng xạ?
Sau khi uống I-131, một phần iod phóng xạ không được giữ lại ở mô đích sẽ được cơ thể đào thải, chủ yếu qua nước tiểu và một phần qua nước bọt cùng các dịch cơ thể khác. Trong một khoảng thời gian sau điều trị, người bệnh cần hạn chế làm người xung quanh tiếp xúc không cần thiết với bức xạ, đặc biệt là trẻ nhỏ và phụ nữ mang thai.
Thời gian và mức độ hạn chế không giống nhau ở mọi bệnh nhân, vì còn phụ thuộc liều I-131, chỉ định điều trị và hướng dẫn an toàn bức xạ của cơ sở thực hiện. Người bệnh nên tuân thủ hướng dẫn riêng được cung cấp sau điều trị. Một số nguyên tắc thường gặp gồm:
- Giữ khoảng cách phù hợp: Hạn chế tiếp xúc gần và kéo dài với người khác trong thời gian được hướng dẫn, đặc biệt với trẻ nhỏ và phụ nữ mang thai.
- Ngủ riêng trong thời gian được chỉ định: Khoảng cách và số ngày cần ngủ riêng phụ thuộc vào liều điều trị và từng trường hợp.
- Hạn chế tiếp xúc thân mật: Hôn, quan hệ tình dục và tiếp xúc gần kéo dài có thể cần tránh trong một khoảng thời gian theo hướng dẫn.
- Uống đủ nước nếu không có chống chỉ định: Điều này hỗ trợ quá trình đào thải lượng iod phóng xạ không được giữ lại trong cơ thể.
- Giữ vệ sinh nhà vệ sinh: Người bệnh thường được hướng dẫn ngồi khi đi tiểu, vệ sinh sạch và xả nước nhiều lần sau khi sử dụng trong những ngày đầu.
- Không dùng chung một số vật dụng cá nhân: Có thể cần sử dụng riêng dụng cụ ăn uống, khăn và các vật dụng dễ tiếp xúc với dịch cơ thể trong khoảng thời gian được hướng dẫn.
- Hạn chế ở nơi công cộng hoặc di chuyển kéo dài: Việc ngồi gần người khác trong thời gian dài trên ô tô, máy bay hoặc phương tiện công cộng có thể cần hạn chế trong những ngày đầu.
- Tuân thủ hướng dẫn về mang thai: Iod phóng xạ không được sử dụng trong thai kỳ. Sau điều trị I-131, phụ nữ thường được khuyến cáo trì hoãn mang thai ít nhất 6 tháng; một số hướng dẫn hoặc tình huống lâm sàng có thể khuyến nghị 6 - 12 tháng.
- Lưu ý khi cho con bú: I-131 không được dùng khi đang cho con bú. Việc ngừng cho bú trước điều trị và thời điểm thực hiện iod phóng xạ phải tuân theo hướng dẫn của bác sĩ, sau khi đã dùng I-131 điều trị, không được cho trẻ đang bú tiếp tục bú lại trong đợt nuôi con bằng sữa mẹ đó, có thể cho con bú ở những lần mang thai sau.
Về kế hoạch sinh con, nam giới cũng cần hỏi bác sĩ về khoảng thời gian nên trì hoãn thụ thai sau iod phóng xạ, nhất là khi điều trị ung thư tuyến giáp bằng liều cao hoặc nhiều đợt. Ở người dự kiến nhận liều tích lũy lớn, vấn đề bảo tồn khả năng sinh sản có thể cần được trao đổi trước điều trị.
:format(webp)/tac_hai_cua_iod_phong_xa_va_nhung_luu_y_sau_dieu_tri_5_a03a68f192.png)
Nhìn chung, tác hại của iod phóng xạ phụ thuộc vào liều, mục đích điều trị và đặc điểm của từng người. Các vấn đề có thể gặp gồm đau vùng cổ, ảnh hưởng tuyến nước bọt, khô miệng, thay đổi vị giác, suy giáp và một số nguy cơ lâu dài. Người bệnh cần tuân thủ hướng dẫn an toàn bức xạ và lịch theo dõi riêng sau điều trị để hạn chế rủi ro cho bản thân và những người xung quanh.
:format(webp)/Desktop_ea96e0b958.png)
:format(webp)/Mobile_4fca6b9016.png)
:format(webp)/xep_dot_song_lung_co_nen_mo_khong_cac_phuong_phap_phau_thuat_va_luu_y_khi_lua_chon_dieu_tri_0_2956ffaa42.png)
:format(webp)/phau_thuat_u_tuy_song_khi_nao_can_thuc_hien_va_co_nguy_hiem_khong_4_d78a0fe5f3.png)
:format(webp)/ibuprofen_cong_dung_va_nhung_luu_y_khi_su_dung_1_7ebb0da7a3.png)
:format(webp)/Nhan_thuy_trai_tuyen_giap_co_nguy_hiem_khong_Cach_nhan_biet_va_dieu_tri_2_f915f2fe87.png)
:format(webp)/Tuyen_giap_co_nhan_la_gi_Trieu_chung_nguyen_nhan_va_cach_dieu_tri_2_5dcd3d1913.png)